Search This Blog

Tuesday, September 5, 2023

Ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ đến khu vực Viễn Đông xét từ phương diện ngôn ngữ

  

Cho đến nay, người ta đã chứng minh rằng tổ tiên của cư dân Đông Á là những người di cư từ phía tây sang, theo nhiều đợt khác nhau, mà một phần đi qua vùng tiểu lục địa Ấn Độ. Do vậy, ảnh hưởng từ nền văn minh Ấn Độ đến phía đông châu Á là điều hiển nhiên. Thế nhưng mức độ ảnh hưởng như thế nào, đặc biệt là đối với khu vực Trung Quốc và phía bắc Việt Nam vẫn còn là một đề tài lớn cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu.

Bài viết này tập trung chủ yếu vào khía cạnh ngôn ngữ.

Trước hết, xin so sánh một số từ trong ngôn ngữ Hindi, ngôn ngữ chính ở Ấn Độ, và tiếng Phổ thông Trung Quốc:

नर nar (nam giới) 男 nán
माँ maan, मा ma (mẹ) 妈Mā
मौ mau (mẹ) 母 Mǔ
मौसी mausee (dì) 姨 yí
यह yah (nó) 者 zhě (anh ta, nó, nọ)
मुखिया mukhiya (kẻ đứng đầu) 牧 mù (kẻ thống trị, chăn dắt)
नौकरानी naukaraanee (người giúp việc) 奴 nú (người hầu, nô lệ)
घर ghar (nhà) 家jiā
गन्ना ganna (mía, đường mía) 甘gān (ngọt)
लीची leechee (quả vải) 荔枝lìzhī
फेफड़ा phephada (phổi) 肺 fèi
पशु pashu (súc vật) 畜 chù, xù
मुर्गी murgee (con gà mái) 雞 jī (con gà)
शेर sher (con sư tử) 狮 shi
साँप saanp (con rắn) 蛇 shé
जल jal (nước) 江jiāng (sông lớn)
धारा dhaara (suối) 河hé (sông)
फिस phis, फ्यय phyay (phí, lệ phí) Phí (費 bì, fèi)
जालसाजी jaalasaajee (giả mạo); जालसाज jaalasaaj
(người giả mạo); जालसा jaalasa (cạm bẫy) 假 jiǎ (dối trá)
दुष्ट dusht (độc ác) 毒Dú (độc hại, độc ác)
संघ sangh (liên hợp) 双 suang (cặp, cùng nhau)
द da (các) 多 duō (nhiều)
हुआ hua (đã xảy ra 脚Jiǎo (chân)
बांग baang (bùng nổ) 砰Pēng (tiếng nổ, tiếng động lớn)
शुरू shuroo (bắt đầu) 初 chu
हो ho (đúng) 乎 hū = có đúng không?
जैसा jaisa (bằng, như) 偕jiē (đều, cùng)
दंड dand (một sự trừng phạt) 掸 Dǎn (đánh)
भया bhaya (sợ hãi) 害怕Hàipà
माल maal (các mặt hàng) 賣 mài (bán); 买 mǎi (mua)
लहर lahar (sóng) 浪làng, láng
बाँट baant (chia sẻ) 頒 bān (ban phát, chia cho)
बंध bandh (liên kết) 班 bān (toán, tốp, đoàn, lớp…); 邦 bāng (bang, nước);帮bāng (liên kết, băng đảng)
नौस naus (buồn nôn) 瑙斯 Nǎo sī
जाँच करना jaanch karana (kiểm tra) 查看Chákàn
लहंगा lahanga (lò nung) 炉火 Lú huǒ (ngọn lửa); 炉 lú (cái lò); 火 huō (lửa)
बड़ा bada (to lớn) 霸 bà ( trùm, lớn); 大 dà (lớn)

Bảng so sánh không chỉ cho thấy tính chất đồng nguyên của các từ ngữ hai bên mà còn cho thấy dấu hiệu vay mượn trong ngôn ngữ Trung Quốc từ hệ ngôn ngữ Ấn Độ, những khái niệm rất cổ xưa.

Nhận định này vừa phù hợp với sơ đồ di cư của loài người, như đã đề cập, lại được hậu thuẫn bởi một số chi tiết khác.

Phật Thích Ca, một nhân vật được xếp vào hàng có ảnh hưởng nhất về tư tưởng ở Trung Quốc, là một người Ấn Độ. Bồ-đề-đạt-ma (~470 – 543), một người Ấn Độ khác, cũng để lại những di sản tinh thần lớn ở Trung Quốc cho đến nay. Những điều này không thể không phản ánh vị thế lớn của nền văn minh Ấn Độ trong nhận thức của người Trung Quốc và một truyền thống tiếp thu từ nền văn minh đó.

Sách Trúc thư kỷ niên, được biên soạn trong một thời gian dài, cho đến thế kỷ 3 TCN, cho biết vào năm thứ 13 đời Chu Ẩn Vương (tức là năm 302 TCN) thì Hàm Đan (tức là nước Triệu) lệnh cho các Tướng quân, Đại phu cùng với con đích và thuộc cấp của họ đều phải mặc Hồ phục (1). Hồ là một khái niệm người Trung Quốc chỉ một thứ người ngoại tộc. Người Ấn cũng được gọi là Hồ nhân, mặc dù không hẳn Hồ đều là Ấn. Có lẽ khái niệm người Hồ là chỉ chung những nhóm mang đặc điểm Ấn – Âu bao gồm các tầng lớp trên của xã hội Ấn Độ đương thời. Người Ấn từng có một đế chế rộng lớn dưới thời A Dục Vương (Ashoka) thế kỷ 3 TCN, quy mô lớn hơn nhiều so với toàn bộ lãnh thổ bảy nước đương thời ở Trung Quốc, đó cũng là một bằng chứng cho thấy sự phát triển sớm của xã hội Ấn Độ cổ đại, trong mối so sánh với Trung Quốc.


Các trường hợp tiếng Hán vừa được liệt kê là thuộc ngôn ngữ Hoa Bắc (mặc dù ngày nay không chỉ được nói ở Hoa Bắc). Bây giờ xin đề cập đến hai nhóm ngôn ngữ phía nam Trung Quốc là tiếng Mân (trung tâm là vùng Phúc Kiến) và tiếng Quảng Đông.

Ba trường hợp sau đây trong tiếng Mân, ghi theo cách phát âm, nghĩa tiếng Việt được để trong dấu ngoặc, là:

1. dzhən (ruộng lúa).
Chữ Hán chỉ ruộng lúa là 田, bính âm là tián. Trường hợp này âm Hoa Bắc khác hẳn âm Mân nên khó có thể cho rằng từ dzhən có nguồn gốc phía bắc, ngoài ra thì phía bắc không có ruộng lúa. Hiện các học giả vẫn chưa giải quyết được vấn đề nguồn gốc của từ này (theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Tiếng_Mân).
Khái niệm “ruộng lúa” trong tiếng Hindi được gọi là “dhaan ka khet” – धान का खेत. Trong đó dhaan = cơm, ka khet = cánh đồng. Trong tiếng Bangla, cũng được nói ở vùng tiểu lục địa Ấn Độ thì Dhāna (ধান) có nghĩa là thóc, Dhāna kṣēta (ধান ক্ষেত) có nghĩa là ruộng lúa. Hai tên gọi này rõ ràng cùng một gốc.
Có thể thấy khái niệm ruộng lúa được hình thành như sau: Đầu tiên là người ta có Thóc hay Cơm (dhaan) từ việc thu nhặt lúa hoang, sau đó thu thập và trồng trên những cánh đồng, vì thế sinh khái niệm “dhaan ka khet”, tức là “cánh đồng của cơm” hay “đồng lúa”.

Đến đây thì có thể thấy từ “dzhən” của tiếng Mân chính là từ vay mượn và biến hóa từ nền văn minh Hindi. Điều này cũng ủng hộ quan điểm về nguồn gốc sông Hằng của cây lúa thuần hóa, trong số các quan điểm khác hiện chưa ngã ngũ.

2. Chéo (chim)

Chữ Hán là 鳥, thường phát âm là niăo hoặc dăo. Trường hợp này âm Hoa Bắc cũng khác hẳn âm Mân. Trong khi đó từ Chéo lại có dấn hiệu gần với là từ chidiya चिड़िया trong tiếng Hindi, và từ Chim trong tiếng Việt. Rất có thể các từ Chéo (tiếng Mân) và Chim (tiếng Việt) đều mượn từ ngôn ngữ Hindi, không đi qua trung gian Hoa Bắc.


3. Cu-ê hoặc Ku-ê (gà),

Chữ Hán là 鸡, âm Hoa Bắc là jī. Chữ này được ghi âm Quảng Đông theo phiên âm quốc tế là gai, đọc giống với kai.
Các âm chỉ khái niệm con gà của tiếng Mân và tiếng Quảng Đông có thể xuất phát từ cùng một nguồn và không có dấu hiệu qua trung gian Hoa Bắc.

Từ chỉ “gà” trong một số ngôn ngữ ở Nam Á, bao gồm tiếng Tamil và Malayyalam ở Ấn Độ, như sau:

Tiếng Hindi: मुर्गा murga (con gà nói chung), मुर्गी murgee (con gà mái), मुर्गियाँ murgiyaan
(những con gà mái)
– Tiếng Tamil: கோழி Kōḻi (số ít), கோழிகள் Kōḻikaḷ (số nhiều)
– Tiếng Malayalam: കോഴി caaazhi (số ít) / കോഴികൾ kozhikal (số nhiều)
– Tiếng Lào: kai
– Tiếng Miến Điện: kyaatsarr
– Tiếng Thái: kị̀ (thực tế âm nghe ra là kài)
– Tiếng Mường: Ka
– Tiếng Việt: Gà; Ga (tiếng vùng khu 4); một số nơi phát âm là Gè; Kê (tên mà người Việt gán với chữ 雞 của người Hán). Ngoài ra còn có từ “gà mái ghẹ” để chỉ con gà mái con gà mái non. Trong tiếng Hindi còn có từ ande (अंडे) chỉ những quả trứng, mà có lẽ đó là nguồn gốc của từ Đẻ trong tiếng Việt.


Bây giờ chúng ta hãy xem xét một số âm Hán ở Quảng Đông trong sự đối chiếu với các từ Hindi có liên quan. Sau mỗi chữ Hán sẽ là phiên âm Bắc Kinh/phiên âm Quảng Đông.


मौ mau (mẹ) – 母 mǔ/mou
सच sach, सत् sat (sự thật) – 实 shí/sat
मुखिया mukhiya (kẻ đứng đầu) – 牧 mù/muk (kẻ chăn, kẻ đứng đầu)
मुर्गा murga; मुर्गी murgee (gà) – 雞 jī/gai
सैनिक sainik (lính) – 使 shǐ/sai (sai khiến)
पाप paap (tội) – 法fǎ/faat (phép tắc, pháp luật, sự trừng phạt)
फन phan (vui vẻ) – 奋 fèn/fan (phấn khởi)
थप thap (hơn) – 拓 tà/taap (khai triển, mở rộng)
या ya (hoặc) – 也 yě/jaa cũng, vậy
दक्ष daksh (có hiệu quả), दक् dak (kỹ năng) – 得dē /dak (được, hiệu quả)
दुष्ट dusht (độc ác) 毒 dú/duk (độc hại, độc ác)
मोटा mota (dày, mập) 漠 mò/mok (to lớn)
कंपन kampan (rung động), कामुक kaamuk (gợi cảm) – 感 gan/gam (cảm động)
कब् kab (khi) – 急 jí /gap (nhanh, gấp rút)
नकाब nakaab (mặt nạ) – 匿 nì/nik
नौस naus (buồn nôn) – 瑙斯 Nǎo sī/nou si
सुख sukh (niềm hạnh phúc) – 福 Fú/fuk (Sung sướng)
की kee (của, thuộc về) – 圻 qí/kei (biên, cõi)

Bảng đối chiếu này cho thấy dấu vết của ngôn ngữ Hindi trong tiếng Quảng Đông.

Nội dung vừa được trình bày cũng cho thấy sự vay mượn của ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á từ Ấn Độ.

Tóm lại, chúng ta có thể hình dung như sau: Ban đầu tiếng Hindi có ảnh hưởng khắp cả nam bắc Trung Hoa. Sự vay mượn các khái niệm rất cơ bản cho thấy ảnh hưởng này khá sớm và sâu sắc. Sau đó ngôn ngữ phía bắc lại dần lan xuống phía nam, che lấp dần ảnh hưởng trực tiếp của ngôn ngữ Hindi ở phía này.

Sử sách Trung Quốc chép việc chinh phục vùng Lĩnh Nam một cách khá mờ nhạt, không hợp lý đối với miền lưu vực Châu Giang trên thực tế khá lớn và giàu nguồn lực.

Theo nội dung tấm bản đồ của Pomponius, một nhà địa lý La Mã, soạn vào năm 43AD thì lãnh thổ Trung Quốc không chiếm nhiều về phía nam như những mô tả khác. Dưới đây là nội dung tấm bản đồ Pompnius được phục dựng bởi Konrad Miller, một nhà sử học và chuyên gia bản đồ người Đức, năm 1898:

 
Bản đồ Pompnius được phục dựng bởi Konrad Miller. 
Nguồn: https://digitalmapsoftheancientworld.com/ancient-maps/pomponius-melas-map/
 
Toàn bộ khu vực mà ngày nay chúng ta cho là Đông Nam Á, và có lẽ cả vùng phía nam Trung Quốc đều thuộc về Ấn Độ. Tất nhiên chúng ta có thể cho rằng mô tả này không đúng với thực tế năm 43, Pomponius không thể có các tài liệu cập nhật như ngày nay mà phải dựa vào những nguồn có thể đã rất lạc hậu. Ngoài ra thì sự ghi nhận của các thương nhân về lãnh thổ có thể gần với đặc tính của dân cư, của ảnh hưởng mềm nói chung, chứ không trùng hoàn toàn với ghi nhận quan phương trên giấy tờ của sử sách ở Trung Quốc.

Theo sử sách Trung Quốc thì ở thế kỷ 5 TCN nước Việt của Câu Tiễn chỉ đến đất Cối Kê (nay là thành phố Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) là hết. Vậy thì phần phía nam là họ mở rộng dần về sau. Trung tâm đất Mân là Phúc Châu lệch về phía nam so với vị trí được xác định là Cối Kê xưa khoảng 450km theo đường thẳng, bao phủ bởi vùng núi cao chạy sát tận bờ biển. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, quyển Đông Việt liệt truyện, đến năm Kiến Nguyên thứ 6 (135TCN) các đại thần nhà Hán còn tranh luận xem có nên lấy đất Việt cho vào nội thuộc hay không. Rồi nhà Hán chiếm dần, đến năm Nguyên Phong thứ nhất (110TCN) mới chiếm hẳn Mân Việt.

Điều này cho thấy việc xác định vị trí đường ranh giới như trên bản đồ chưa hẳn đã là vô lý. Có lẽ Pomponius dựa trên mô tả đoạn hành trình đi từ đảo Borneo (còn gọi là Kalimantan) qua đảo Luzon đến đảo Đài Loan, trên con đường này còn có một số đảo nhỏ kết hợp thành vòng cung ngoài của Biển Đông. Con sông phía bờ đối diện là Min Jiang (Mân Giang), dài 541km chảy qua tỉnh lị Phúc Châu của tỉnh Phúc Kiến ngày nay
 
 
 
 

 Sông Minjing ở Phúc Kiến. Nguồn: https://de.wikipedia.org/wiki/Min_Jiang_(Fujian)

Sự hiện diện của đế chế người Ấn thời A Dục Vương ở phía nam Trung Quốc là điều có thật, được Lịch Đạo Nguyên (thế kỷ 5-6) nhắc trong sách Thủy Kinh chú, từ một văn bản tên là “Lâm Ấp ký” có trước đó, ngày nay đã thất truyền:
“Lâm Ấp ký” nói: từ Giao Chỉ đi về phía nam có sông ngách Đô Quan Tái Phố chảy ra. Con sông này từ phía đông huyện đi qua huyện An Định, phía bắc kèm sông Trường Giang, ở trong sông Trường Giang có chiếc thuyền đồng do Việt Vương đúc, lúc nước triều xuống người ta có thấy chiếc thuyền ấy. Con sông Trường Giang ấy lại chảy về phía đông, cách sông có thành Nê Lê, nói thành này do A Dục Vương xây” (2).
An Định là một huyện thuộc quận Giao Chỉ, một trong bảy quận thuộc bộ Giao Chỉ. Đoạn văn trên cho thấy huyện này nằm phía nam của quận. Sông chảy từ phía đông huyện và đi qua huyện, tức là chảy lệch qua phía tây. Nếu xác định quận Giao Chỉ tương ứng với miền bắc Việt Nam thì không có con sông nào phù hợp như vậy cả. Đây cũng là một trong rất nhiều chứng cứ ủng hộ cho luận điểm tôi đã chứng minh, là quận Giao Chỉ vốn nằm ở phía Quảng Tây chứ không phải ở miền bắc Việt Nam. Phía nam quận Quảng Tây giáp biển, có các con sông là Nanliu (Nam Lưu) và Qin Jiang (Tần Giang) đúng là chảy lệch sang phía tây:

 


Bản đồ một phần của tỉnh Quảng Tây, Nguồn: https://www.chinamaps.org/china/provincemaps/guangxi-china-map.html


Con sông Nanliu phía bắc cạnh một sông khác, sông Beiliu (Bắc Lưu), khoảng cách giữa hai sông chỗ gần nhất, trên đường nối hai đô thị là Yulin (Ngọc Lâm) và Beiliu (Bắc Lưu), chỉ khoảng 12km. Như tên gọi, hai sông này đúng là một cặp. Sông Qin Jiang thì phía bắc cũng có một con sông lớn là Yujiang (Úc Giang), nhưng khoảng cách xa hơn. Vậy thì rất có thể sông Nanliu là Đô Quan Tái Phố, mà Beiliu là Trường Giang (sông dài). Dù trường hợp nào thì cũng không ra khỏi nhận thức rằng đã có sự hiện diện của đế chế A Dục Vương ở khu vực nay là phía nam Trung Quốc, giai đoạn mà bảy nước đang lo thôn tính nhau ở phía Hoa Bắc. Một tòa thành mà nhiều thế kỷ sau vẫn còn tồn tại và được ghi nhận chứng tỏ đã có một sự cái trị trên thực tế chứ không chỉ là ảnh hưởng mềm.
Tiến trình Hán hóa ở vùng Lĩnh Nam chỉ bắt đầu mạnh mẽ từ sau măm 43, khi Mã Viện chính thức bình định được Giao Chỉ bộ, chứa cả khu vực Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Theo Hậu Hán thư thì người Giao Chỉ vốn “ngôn ngữ mỗi nơi mỗi khác, phải qua nhiều lần thông dịch mới hiểu được. Người ở đó như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt, tóc búi ngang gáy mà đi chân đất, dùng vải quấn từ đầu xuống chân” (3). Ghi nhận trên cho thấy dân Giao Chỉ khác biệt lớn về chủng tộc và ngôn ngữ với người Trung Nguyên. Nhận xét về trang phục cho thấy có sự tương đồng với văn hóa Ấn Độ.

Bây giờ xin đối chiếu một số từ vựng Hindi và các từ tiếng Việt đồng nghĩa hoặc rất liên quan:

माँ maan, मा ma (mẹ) Má, Mạ
मौसी mausee (dì) Dì
पापा paapa (cha) Ba
मैं main (tôi, mình) Mình
वह vah (anh ta, chị ta) Va (ông va, mụ va)
बच्चे bachche (những đứa trẻ) Trẻ
बेबी bebee (đứa bé) Bé
के ke (của, thuộc về) Kẻ (người thuộc về một nhóm, một thể loại nào đó). Các khái niệm Kẻ Chợ, Kẻ Sở, Kẻ Quảng, Kẻ Mọi… là theo nghĩa này. Tên các làng Việt xưa thường có chữ Kẻ đứng trước.
दौड daud (loài) Đồ (đồ khỉ, đồ heo…)
आत्मा aatma (linh hồn); मर mar (chết) Ma, Mả
दल dal (đội) Đàn (đội, bầy, đàn), Đám
बल bal (lực lượng) Bầy
दौ dau (hai) Đôi
पाल paal (bạn thân), बंध bandh (liên kết) Bạn
गुलाम gulaam (nô lệ) Người làm, Làm
छोड़ना chhodana (rời khỏi) Chỗ, Chốn, Trốn
में mein (bên trong) Miền
चलन chalan (xu hướng, xu thế) Làn
वाल vaal (tường) Vách
कविता kavita (bài thơ) Ca (bài ca)
वसंत, वसं vasant (mùa xuân) Xuân
रंग rang, रं ran (màu sắc) Ráng (màu sắc)
लाल laal (màu đỏ) [đỏ] lòm
नदी nadee (dòng sông) Nác (nước)
चीज़ें cheezen (hàng hóa) Chợ
संपत्ति sampatti (của cải, tài sản) Sắm (sắm tài sản)
लाभ laabh (lợi nhuận) Lãi
व्यय vyay, व्य vy (chi phí) Vay
फिस phis (lệ phí) Phí (tiêu phí, chi phí)
चाल chaal (di chuyển) Chân
जिगर jigar (gan) Gan
किडनी kidanee (quả thận) Cật
मुँह munh (miệng, mồm) Mồm, Môi, Mui
माथा maatha (trán) Mặt
अंडा anda (trứng, hòn dái) Dái, Trứng dái. Hindi coi Dái cũng là một dạng Trứng, như Việt.
क्रॉसबार krosabaar (xà ngang) Xà
कॉलम kolam (cột) Cột
निर्माता nirmaata (thợ xây, thợ nề) Nề
ममी mamee (xác ướp) Mắm
कुदाल kudaal (cái cuốc) Cuốc, Cuốc đất
कप kap (cái tách, cái cốc) Cốc
दार daar (cửa) Cửa giả (cửa rả, cửa nói chung)
जला jala (đốt cháy), लहंगा lahanga (lò nung) Lả (lửa) – phương ngữ Trung Bộ
धुआं dhuaan (khói) Đun
चूहा chooha (chuột) Chuột
चिड़िया chidiya (chim) Chim
मुर्गा murga (gà) Gà
मुर्गी murgee (gà mái) Gà mái ghẹ
अंडे ande (trứng) Đẻ
कौआ kaua (con quạ) Qụa
कुत्ता kutta (con chó) Cún
सींग seeng (sừng) Sừng
माद maad (mật ong) Mật
चांद chaand (trăng) Trăng
बेड़ा beda (bè, hạm đội) Bè
नाव naav (thuyền) Nôốc, nốc (thuyền)
गहरी खाई gaharee khaee (rãnh sâu) Khe (rãnh, suối), Khê (溪Xī = suối, sông)
पत्थर patthar (cục đá) Đá
मैंगोस्ट maingost (măng cụt) Măng cụt
लोंगन longan (long nhãn) Long nhãn
मिठाई mithaee (ngọt) Mít (quả mít)
चाय chaay (chè, trà) Chè
सिम sim (trái sim) Sim
वस् vas, वस्तु vastu (sự vật) Vật
काल kaal (giai đoạn) Cơn
नम nam (ẩm ướt) Nấm
बदला badala (sự trả thù) Báo [thù]
खाना khaana (ăn) Ăn
खाओ khao (ăn), एक पार्टी खाओ ek paartee khao (có tiệc) Khao
बहस bahas (bàn bạc) Bàn
मन man (tâm trí) Mảng (gắn tâm trí vào cái cái gì đó)
विद् vid (học giả) Viết
कह kah (nói), कहना kahana (kể) Kể
नार naar (kể lại) Nói
चिल्ला chilla (la hét) La
गा ga, गाओ gao (hát) Ca, Gào
गायक gaayak (kẻ ca hát) Gáy
चोर chor (trộm) Chôm (trộm)
लूट loot (cướp bóc) Lột (cướp)
पकड़ना pakadana (bắt, nắm lấy) Bắt
काट kaat (cắt) Cắt
कदम kadam (bước chân) Dẫm; Dặm (đơn vị đo khoảng cách)
आ aa (đến, vào) A (sấn vào, a vào)
चलाओ chalao (chạy), तीर चलाओ teer chalao (bắn tên) Chạy, Lao
जाओ jao (đi) Dạo (đi dạo)
एड़ी edee (gót chân) Đi
बैठ baith (ngồi xuống) Bệt (ngồi bệt)
खज khaj (ngứa) Khải (gãi) – phương ngữ Trung Bộ
नौस naus (buồn nôn) Nôn, Nôn nao
दे de (đưa), दिया diya (đã đưa cho) Đưa
देने dene, देन den (cho, đưa) Đền (đền bù)
लें len (lấy); लाय laay (mang đến, mang lại) Lấy
इकट् ikat (sưu tầm) Cất
बोझ bojh (gánh nặng), बोझ गिराना bojh giraana (vứt bỏ) Bỏ
चुन chun (chọn) Chọn
फूँक phoonk (thổi) Phun
छुड chhud (giải phóng, thả ra) Trút
खींच kheench, खीं khin (lôi kéo, đã vẽ ra) Khiển, Khiến
कड़ी kadee (buộc dây) Cột
अप ap (hướng lên) Ấp (phủ bên trên)
बार baar (lần) Bận (lần)
हास has (sự mất mát), हत् hat (cái chết) Hết
बराबर baraabar (bằng nhau) Bằng
डूब doob (đắm) Đắm, Đầm (chìm; vùng đất trũng có nước). Phương ngữ một số nơi ở Việt Nam vẫn còn hiện tượng lẫn lộn giữa o và a, nói “láp xe độp” nghĩa là “lốp xe đạp”.
रिसाव risaav (rỏ rỉ) Rỉ
दंड dand (một sự trừng phạt), दबा (đàn áp) Đánh
सैनिक sainik (lính) Sai (sai bảo)
शान shaan (tráng lệ) Sang (sang trọng)
शाम shaam (buổi tối) Sẩm
कायर kaayar (nhát gan) Cáy (con Cáy). Con cáy rất nhát, có thể tên nó được đặt theo từ này)
पागल paagal (gàn dở) Gàn
खुश khush ( vui) Vui, Khoái
भया bhaya (sợ hãi) Hãi
दर्द dard (nỗi đau) Đớn (đớn đau)
सुख sukh (niềm hạnh phúc) Sung sướng
शक्ति shakti (quyền lực, sức mạnh) Sức
देरी deree (chậm trễ) Chậm rì
अस्थायी asthaayee (tạm thời) Thay
वहा vaha (ở đó) Vạ (nằm vạ, vạ vật)
शेयर sheyar, शार shaar (chia sẻ) Sẻ
चाह chaah (sự mong muốn) Chờ
अत at (vì thế) Ắt
ना na (không) Nỏ (không)
ने ne (có) Này, Nầy, Nè (có nè, đây nè)
व va (và) Và
वाह vaah Va (ồ, ố, ôi, a!)
हा ha (đúng) Hả, Hở (phải không? đúng không?)
हैं hain (là, hẳn là), हाँ haan (đúng) Hẳn
या ya (hoặc) Giả (hoặc giả, hoặc)
ठीक theek (chính xác), ठीक वैसा theek vaisa (giống như) Thế (như thế)
अगर aga (nếu như) Giá
कारण kaaran (lý do) Cớ, Răng (cớ sao)
वह vah (bấy), वही vahee (như nhau) Vậy (như vậy, chừng đó)
बन ban (trở nên) Bèn
क्या kya (cái gì) Kỳ, kể (bất kỳ, bất kể)
कै kai (gì) Cái gì
बाएं baen bên trái Bên
के पास ke paas (gần) Kề
कम kam (ít hơn) Kém
छोट chhot (bé nhỏ, thấp bé) Chột (không lớn nổi)
आका aaka (bậc thầy) Cả (đứng đầu)
होंठ honth (môi) Hôn, Hun
कामुक kaamuk (gợi cảm) Cảm (động lòng)
कमज़ोर kamazor (yếu đuối) Cảm (bị cảm)
डल dal (đần độn) Đần, Độn
जालसाजी jaalasaajee (giả mạo) Giả, Hàng giả
छl chhal (gian dối) Gian
सच sach (sự thật) Thật
तानाश taanaash (bạo chúa) Tàn ác, Ác
विघटन vighatan (giải tán) Tán (tán nhỏ ra); Tản
पतन patan (sự sụp đổ) Tàn
नष्ट nasht (bị phá hủy) Nát

Sự tương đồng ngôn ngữ này cho thấy khu vực nói tiếng Việt ngày nay chịu ảnh hưởng rất lớn từ nên văn minh Ấn Độ, trước khi nền văn minh Trung Hoa từ Hoa Bắc phủ xuống.
Tức là không có cái gọi là âm Hán thượng cổ trong ngôn ngữ Việt Nam.
Ngay cả quan điểm cho rằng lớp từ được gọi là từ Hán Việt chủ yếu là các âm Hán trung cổ, mà ngày nay được chấp nhận khá rộng rãi, cũng phải được xem xét lại.

Tôi đã tìm thấy nhiều từ gọi là Hán Việt, nhưng có yếu tố âm Hindi. Xin liệt kê sau đây, mỗi mục từ được xếp theo sơ đồ: Hindi – Hán Việt (nghĩa) – Hán:

मौ mau – Mẫu (mẹ) – 母Mā
नर nar – Nam (nam giới) – 男 nán
औरत aurat (phụ nữ) – Ẩu (mẹ, phụ nữ) – 嫗 yǔ
यह yah (nó) Giả anh ta, nó, nọ (者 zhě)
मुखिया mukhiya (kẻ đứng đầu) – Mục (kẻ chăn, kẻ đứng đầu)- 牧 mù
नौकरानी naukaraanee – Nô (người hầu) – 奴 nú
फेफड़ा phephada (phổi) – Phế – 肺 fèi
तिल्ली tillee (lá lách) – Tỳ – 脾 bài, pái
मन man (tâm trí) – Man ( quên mất, không nhớ) – 慲 không có âm Hán
बाँट baant (chia sẻ) – Ban (ban phát, chia cho) – 頒 bān
बंध bandh (liên kết) Ban (toán, tốp, đoàn, lớp…) – 班 bān; Bang (bang, nước) – 邦 bāng; Bang(liên kết, băng đảng)- 帮bāng
पशु pashu (súc vật) – Súc – 畜 chù, xù
शेर sher (con sư tử) – Sư – 狮 shi
साँप saanp (con rắn) – Xà – 蛇 chí, shé
फिस phis (lệ phí) – Phí – 費 bì, fèi
थोक thok (buôn) – Thương – 商 shang
दक्ष daksh (có hiệu quả) – Đắc – 得 dē (đúng, trúng)
जालसाजी jaalasaajee (giả mạo); जालसाज jaalasaaj
(người giả mạo); जालसा jaalasa (cạm bẫy) – Giả – 假 jiǎ
तेल teel (tinh dầu) – Tinh – 精 jing (tinh túy)
नहर nahar (con kênh) – Hà – 河 hé
गहरी खाई gaharee khaee (rãnh sâu) – Khê – 溪Xī (khe, lạch)
खो kho (mất) – Khố – 库kù (nơi chứa giữ)
ताला taala (cái khóa) – Tỏa – 鎖 suo
तीर teer (mũi tên) – Tiễn – 箭jiàn
पत्थर patthar (cục đá) – Thạch – 石 dàn, shí
वस् vas, वस्तु vastu (sự vật) – Vật – 物 wù
कंद kand (củ) – Căn – 根 gēn (gốc rễ)
नकाब nakaab (mặt nạ) – Nặc – 匿 nì (giấu kín)
उदास udaas (u buồn) – U – 怮 jau
फन phan (vui vẻ) – Phấn – 奋 fèn
कंपन kampan (rung động) – Cảm – 感 gan
खोना khona (thua) – Khuất – 屈 qu
खोया khoya (mất) – Khu, Khư , Khử -去qu (đã qua, chết, rời bỏ)
संघ sangh (liên hợp) – Song – 双 suang (cặp, cùng nhau)
विघटन vighatan (giải tán) – Tán, Tản – 散 san (tan nhỏ ra)
पतन patan (suy tàn) – Tàn – 殘 cán
हुआ hua (đã xảy ra) – Hóa – 化 hua (biến hóa, biến đổi)
ली lee (lấy đi) – Ly – 离 chi, lí, lì (dời ra, chia lìa)
द da (các) – Đa – 多 duō (nhiều)
बड़ा bada (to lớn) – Bá – 霸 bà (trùm, lớn)
बड़ा bada (to lớn) – Đại – 大 dà ( to lớn)
विशाल vishaal (to lớn) Vĩ – 伟 wei; Vi (微 wēi (nhỏ bé ); hoặc विभाजित vibhaajit (chia ra) – Vi – 微 wei (nhỏ, phần nhỏ)
नियम niyam (luật lệ) – Niêm (dính chặt) – 粘 lian, nián, zhan (dán, dính)
की kee (của, thuộc về) – Kỳ – 圻 qí (biên, cõi)
शुरू shuroo (bắt đầu) – Sơ – 初 chu
पाप paap (tội) – Pháp – 法fǎ
छl chhal (gian dối) – Chân – 嘿 Hēi (soi xét, phân biệt, nêu tỏ)
सच sach, सत् sat (sự thật) – Thật – 实 shí
थप thap (hơn) – Tháp – 拓 (tà khai triển, mở rộng)
मुक muk (im lặng) – Mặc – 嘿 hēi, mò (im lặng, không nói)
हो ho (đúng) – Hồ – 乎 hū (có đúng không?)
फट phat (nổ) – Phát – 发Fā (phát ra)
तेज़ tez (nhanh) – Tốc – 速 sù (nhanh chóng)
कब् kab (khi) Cấp (急 jí ) nhanh, gấp rút
जैसा jaisa (bằng, như) – Giai – 偕jiē (đều, cùng)
दंड dand (một sự trừng phạt) – Đàn – 掸Dǎn
माल maal (các mặt hàng) – Mại – 賣 mài (bán); Mãi – 买 mǎi (mua)
कामुक kaamuk (gợi cảm) – Cảm – 感 gǎn (động lòng)
धान dhaan (cơm); धान का खेत dhaan ka khet (ruộng lúa) – Điền – 田 tián
घोड़ ghod (con ngựa) – Ngọ (chi Ngọ trong 12 chi, biểu tượng là con ngựa) – 午 wǔ

Trong số này, có hiện tượng nhiều từ không giống âm Hán với chữ Hán mà nó được gán vào. Điều đó giúp phản bác quan điểm cho rằng lớp từ Hán Việt đều có gốc Hán. Mặt khác, lại ủng hộ ý kiến tôi đã nêu ra trong các bài trước, là hệ thống từ được gán với các chữ Hán này được tạo ra dưới triều các vua có nguồn gốc Champa, tên gọi một thành bang ở Ấn Độ thời cổ.


Chú thích:

1. Trúc thư kỷ niên (bản dịch của Nguyễn Đức Vịnh), Nxb Văn học, 2021, trang 249
2. Thủy kinh chú sớ (bản dịch của Nguyễn Bá Mão), Nxb Thuận Hóa & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 432,433
3. Hậu Hán thư – Q86 – Nam man, Tây nam di liệt truyện. Nội dung này được dịch bởi Châu Hải Đường, in trong sách An Nam truyện, nxb Hội nhà văn, 2018, trang 187


Một số nguồn tham khảo:

– Chương trình Google Dịch
– https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english-hindi/
– https://hvdic.thivien.net/whv/%E5%8D%88
– http://tratu.soha.vn/
– Huình-Tịnh Paulus, Đại Nam Quấc âm tự vị
– Hoàng Phê (cb), Từ điển tiếng Việt
– Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Nxb Lá Bối – Sài Gòn, 1971
– Tư Mã Thiên, Sử ký
– Các bài viết trước đây của chính tác giả, đã tự công bố trên trang web cá nhân https://hoangcuongviet.wordpress.com/

Sunday, September 3, 2023

Một ví dụ về công việc đào xới lịch sử

 

Một ví dụ về công việc đào xới lịch sử
Xét một đoạn sử sau đây, về sự kiện quân Đại Việt đánh chiếm Chiêm Thành năm 1471:
“Sau khi Trà Toàn bị bắt, tướng của hắn là Bô Trì Trì chạy đến Phiên Lung, chiếm cứ đất ấy, xưng là chúa Chiêm Thành, Trì Trì lấy được 1 phần 5 đất của nước Chiêm, sai sứ sang xưng thần, nộp cống, được phong làm vương. Vua lại phong vương cho cả Hoa Anh và Nam Bàn gồm 3 nước để dễ ràng buộc.” - “Đại Việt sử ký toàn thư”, bản dịch của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam.
Chúng ta có thể đặt ra một số câu hỏi:
- Bô Trì Trì hay Trì Trì là tên của một nhân vật, hay Bô là họ, hay từ này mang ý nghĩa nào khác?
- Phiên Lung là nơi nào?
- Hai nước Hoa Anh và Nam Bàn ở đâu?
Trước hết, xin bàn về từ Bô. Chữ Hán trong nguyên bản là 逋 , âm Hán gần như cũng là Bô.
Nếu người dịch để ý đến ngôn ngữ Champa hẳn sẽ hiểu rằng Bô/Pô là từ chỉ vua, chỉ một thủ lĩnh, chứ không phải là họ hay tên riêng. Vậy, sau khi Trà Toàn bị bắt thì Trì Trì trở thành vua (tức là Bô) của người Chiêm Thành.
Trong trường hợp này thì người ta mượn chữ Hán cùng âm để biểu thị một tên nôm mà thôi. Hay nói cách khác là chữ Hán ở đây đóng vai trò chữ Nôm. Người Hán không dùng chữ 逋 theo nghĩa này.
Chữ 逋 với nghĩa là Vua cũng xuất hiện trong truyện Hồng Bàng thị, bộ Lĩnh Nam chích quái: 百姓需要他的时候高呼"逋乎何在? ( Hễ dân có viêc, lại gọi to: Vua ở đâu rồi?) (theo cách dịch trong Từ điển Hán Nôm https://hvdic.thivien.net/whv/%E9%80%8B). Trong các bản dịch được lưu hành phổ biến thì người ta dịch chữ đó là Bố, mặc dù vậy thì từ Bố trong ngữ cảnh này cần được hiểu là Vua chứ không phải bố đẻ. Có lẽ danh từ Bố thông dụng trong tiếng Việt ngày nay có nguồn gốc từ từ Bô, chỉ một người đàn ông quyền lực. Sự giống nhau giữa âm Việt và Champa này lại là một chứng cứ cho thuyết về mối liên hệ giữa Hùng Vương và Lâm Ấp – Champa mà tôi đã từng thảo luận và sẽ quay lại vào lúc thích hợp.
Về hai từ Phiên Lung
Theo nhận định của giới sử học thì nơi người Cham lập đô mới, chính là vùng Phan Rang ngày nay. Tức là Phan Rang là Phiên Lung. Nhận định đó sẽ thêm sức thuyết phục nếu có thêm chứng minh về mối liên hệ ngữ âm giữa hai từ Phan Rang và Phiên Lung.
Người ta cũng khá nghiêng về nhận định từ Phan Rang vốn xuất phát từ Panduranga, tên gọi của một vương quốc Champa trên cùng địa bàn. Xét trên phương diện đồng âm và tính chất kế thừa tên gọi cũ của Champa, điều khá phổ biến, thì giả thuyết này rất phù hợp.
Vấn đề là từ Phiên Lung thì lại có vẻ lạc nhịp.
Thực ra, chữ Hán trên nguyên tác là 藩 籠, mà theo ghi nhận của từ điển Hán Nôm ngày nay thì chữ 藩 có hai âm là phiên/phan; chữ 籠 có hai âm là lung/lộng. Tức là chỉ việc dịch ra thành Phiên Lung chỉ là ý chủ quan của nhóm dịch thuật.
Ngoài ra thì từ điển Hán Nôm còn ghi nhận hai chữ trên có khá nhiều âm Nôm, tức là rất có khả năng hai chữ Hán này, hoặc một trong hai chữ, đóng vai trò chữ Nôm, biểu thị cho một âm bản địa, chứ không phải chữ Hán.
Chữ 籠 có các âm nôm là lồng, lung, luông, ruồng
Có thể thấy tổ hợp từ Phan + Ruồng có âm gần nhất với cặp từ Panduranga và Phan Rang. Vậy nên dịch 藩 籠 thành Phan Ruồng thì sẽ nhìn thấy sự hợp lý của địa danh này.
Hai nước Hoa Anh và Nam Bàn ở đâu?
Vấn đề này đã được khá nhiều người đề cập đến, nhưng vẫn chưa có tiếng nói thống nhất về vị trí của Hoa Anh.
Một bài tổng hợp có tên là TIỂU QUỐC HOA ANH XƯA - PHÚ YÊN NAY? của tác giả Phan Thanh Bình, có vài ý như sau:
“Đó là một câu hỏi lớn khi tìm hiểu lịch sử Phú Yên thời mở nước. Tiểu quốc Hoa Anh xưa ở đâu? Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã dày công tìm hiểu và cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp trọn vẹn.” …
”Cũng theo chính sử, sau khi thu phục vùng đất mới năm 1417, Vua Lê Thánh Tôn phong cho tướng Chăm Bô Trì Trì làm Chiêm Thành Vương (vùng Phiên Lung, tức Phan Rang ngày nay). Vua Lê Thánh Tôn lại phong vương cho Hoa Anh Chính sử và phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn ghi rõ Nam Bàn là một nước “ở phía tây núi Thạch Bi, sau này là Thủy Xá, Hỏa Xá (miền Tây Phú Yên và Tây Nguyên ngày nay). Còn tiểu quốc Hoa Anh ở đâu, chính sử không ghi rõ, ngay sử sách triểu Nguyễn cũng không biết vị trí. Các nhà sử học có ý kiến khác nhau về vị trí tiểu quốc Hoa Anh. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong công trình địa bạ Phú Yên đặc dấu hỏi: “Chẳng nhà Lê Thánh Tôn còn phong vương Hoa Anh cho một miền đã chiếm lấy, tức là đất Phú Yên?”… Về vị trí nước Hoa Anh, thiết tưởng cần khảo cứu thêm:. Nhà sử học Lê Thành Khôi cho rằng vị trí Hoa Anh ở phía nam núi Đá Bia (Khánh Hòa ngày nay). Nhiều nhà sử học, trong đó có giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quốc Lộc (quê ở Phú Yên) chia sẻ quan điểm với nhà sử học Đào Duy Anh qua công trình “Đất nước Việt Nam qua các đời” ( Hà Nội -1964): “Nước Hoa Anh có lẽ là miền Phú Yên. Chúng tôi đoán là vùng đất từ Cù Mông đến Đại Lãnh”. Qua ý kiến của các nhà khoa học, anh chị em nghiên cứu lịch sử địa phương ở quê nhà đã dày công nghiên cứu có thêm lời giải đáp thuyết phục.”
Có thể hiểu rằng Hoa Anh là một vùng đệm giữa vùng đất mà Đại Việt thực sự quản lý, đã vượt quá Đồ Bàn – Quy Nhơn, và lãnh thổ Chiêm Thành của Trì Trì.
Ngày nay, nếu chịu sử dụng công cụ Google Maps để kiểm tra thì chúng ta có thể thấy đất Phú Yên phù hợp với vai trò này, theo đó thì quan điểm của Đào Duy Anh là có cơ sở hơn cả. Từ Phú Yên cũng dễ dàng thông lên phía Tây Nguyên, tức là đất Nam Bàn. Lãnh thổ Chiêm Thành chỉ còn là dải đất hẹp ven biển từ Đèo Cả về phía nam. Tất nhiên thắc mắc mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nêu ra vẫn chưa được giải quyết.




Như đã đề cập về hai trường hợp nêu trên, tôi cho rằng việc phân tích văn bản sử Việt Nam, mà trong trường hợp này là văn bản Đại Việt sử ký toàn thư, cần lưu ý đến nhiều trường hợp văn tự thì là chữ Hán nhưng lại đóng vai trò chữ Nôm. Ở đây xin nêu trường hợp chữ 英 mà trên bản dịch thì là Anh (華 英 được dịch là Hoa Anh).
Chữ 英 có âm nôm là Anh, Yêng. Yêng mới đúng âm người bản địa Phú Yên đọc chữ Yên.
Như vậy thì rất có thể âm Yêng đã là một âm có từ trước, chỉ địa danh bản địa, đó là cơ sở cho tên gọi Phú Yên sau này. Đến đây thì giả thuyết Hoa Anh là Phú Yên có thêm cơ sở.
Xin nói thêm rằng nhờ việc đào xới vấn đề này mà tôi còn tìm thêm được nhiều cơ sở nữa, có lẽ cơ bản giải quyết được câu hỏi về vấn đề Hoa Anh – Phú Yên nói trên. Xin trình bày trong thời gian tới.
Chỉ một đoạn sử mà đã bày ra rất nhiều vấn đề, phải không ạ!

Tìm hiểu về tiếng nói người Việt ở thế kỷ 13

 

Năm 1293, sau các cuộc chiến tranh với Đại Việt, triều đình nhà Nguyên cử một sứ đoàn sang nối lại quan hệ bang giao. Trong đợt này, viên phó sứ là Trần Cương Trung 陳剛中 còn gọi là Trần Phu 陳孚, đã ghi chép khá nhiều chi tiết về xã hội Đại Việt, thành một bản sách gọi là An Nam Tức sự. Trong đó, tác giả đã mô tả âm chỉ một số khái niệm trong tiếng Việt, bằng cách gán với một chữ Hán đồng âm. Tổng số được liệt kê là khoảng 20 từ, tuy không nhiều nhưng đó là những chứng cứ quan trọng giúp chúng ta có thể ít nhiều hình dung về tiến trình biến đổi ngôn ngữ của người Việt.

Bạn đọc có thể xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ An Nam Tức sự trên diễn đàn Otofun: https://www.otofun.net/.../dich-sach-co-an-nam-tuc-su.../
Trên trang của Viện Hán Nôm cũng có đăng một bài của tiến sĩ Phạm Văn Thấm, giới thiệu chung về tác phẩm và chọn dịch một đoạn về tiếng Việt. Bạn đọc có thể xem tại đây . http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1550&Catid=718
Nhận xét sơ bộ là hai bản dịch này, sử dụng hai bản gốc chữ Hán khác nhau, có nhiều chỗ dị biệt. Theo một số trao đổi, chia sẻ từ các diễn đàn thì có lẽ hiện nay An Nam Tức sự còn có những bản khác nữa. Tình trạng tam sao thất bản ở các văn bản chữ Hán chép tay là rất phổ biến. Nguyên nhân thì nhiều, có thể là do chép nhầm chữ, do suy diễn chủ quan của người chép hay do chủ ý nào đó.
Tôi sẽ chủ yếu dựa vào bản thứ nhất để phân tích.
Một nhận xét khi xem các nội dung bản dịch và trao đổi về An Nam tức sự, diễn ra trên các diễn đàn, là người ta quy âm gốc vào âm Hán Việt. Ví dụ:
Chồng gọi là “trùng” 重
Tức là sẽ khiến người đọc hiểu rằng người phụ nữ Việt ở thế kỷ sẽ phát âm là TRÙNG khi gọi người chồng.
Trong khi lẽ ra phải làm rõ là người Trung Quốc phát âm chữ 重 như thế nào. Thực tế chữ này được phát âm theo tiếng phổ thông Trung Quốc theo các cách là CHÓNG/TÓNG/ZHÒNG (theo từ điển Hán Nôm hvdic.thivien.net), chứ không phải là TRÙNG.
Chúng ta có thể lập luận rằng không thể coi âm Bắc Kinh ngày nay giống thời thế kỷ 13, tuy nhiên khó mà bác bỏ rằng đó là cơ sở gần nhất để đối chiếu. Mặc dù từ đó về sau chính trị Trung Quốc còn bị chi phối bởi người Mông Cổ rồi Mãn Thanh trong thời gian khá dài, nhưng họ là những tập hợp thiểu số ở mức khó mà gây nên sự biến đổi đáng kể đối với tiếng nói ở Trung Nguyên. Sự biến đổi tự nhiên thì diễn ra rất chậm.
Một hướng lập luận khác có thể được sử dụng để bảo vệ cho việc chỉ quy về âm Hán Việt chứ không phải âm Bắc Kinh hiện đại, là người ta dựa trên quan niệm âm Hán Việt là âm Hán cổ để cho rằng các âm Hán ngày đó gần với âm Hán Việt hơn là với âm Bắc Kinh ngày nay. Tuy nhiên, trong bản Dư Địa chí, Nguyễn Trãi đã ghi nhận rằng “Tiếng Ngô nói đầu lưỡi, phải dịch rồi mới biết”. Tức là một nhà Nho uyên thâm như Nguyễn Trãi cũng phải coi đó là một ngoại ngữ. Nguyễn Trãi chỉ sống sau giai đoạn trên khoảng một thế kỷ.
Vậy có lẽ người Việt ở thế kỷ 13 có thể đã gọi theo âm thứ 3 ở trên, là ZHÒNG. Âm ZH khá gần âm CH. Tức là người ta đã phát âm gần giống như ngày nay, hoặc thậm chí là giống hẳn nhưng người ngoại quốc ký âm lại thì bị lệch một chút.
Bây giờ xin thảo luận cụ thể các trường hợp:
- Gió gọi là “giáo” 教
Chữ 教 bính âm là jiāo.
Vậy xin dịch lại như sau; Gió gọi là jiāo
- Mây gọi là “mai” 梅
Chữ 梅 bính âm là méi.
Vậy xin dịch lại như sau: Mây thì gọi là méi.
Nhận xét: âm này ít hoặc không bị biến đổi.
- Núi gọi là “can ôi” 乾隈 (bản 1); sơn (山) là can ổi (干猥) (bản 2)
Hai trường hợp này tuy chữ khác nhau nhưng âm Bắc Kinh là tương tự nhau: Gan wei, chứ không phải là Can ôi – Can ổi
Người Việt cũng có thể dùng từ Cái để đặt trước sự vật, tức là có thể từ mà Trần Phu nghe được có nghĩa là: Cái núi
Hãy để ý rằng phương ngữ tiếng Việt vùng khu 5 hiện nay nói Cái-núi thì âm C khá gần âm G, âm I đầu tiên hầu như bị ẩn, vị trí âm N khá khó phân biệt là thuộc về âm tiết thứ nhất hay thứ 2. Ngoài ra thì âm G trong các ký âm quốc tế cũng khá gần với âm K/C trong tiếng Việt.
Vậy thì Gan wei = Ca nwei = Cái núi
Có thể thấy trường hợp này tiếng Khu 5 còn lưu giữ âm cổ hơn tiếng Việt phổ thông. Và Trần Phu đã nghe khá chính xác.
- Nước gọi là “lược” 掠
Chữ 掠 bính âm là lue/lu.
Tôi cho rằng ban đầu người ta gọi là Lu để chỉ nước, mà nay dấu vết còn lại là từ Lũ. Sau đó có sự phân chia thành Lước và Lũ. Ngày nay nhiều khu vực ở phía đông đồng bằng Bắc Bộ vẫn gọi là Lước.
Khi làn sóng di cư từ Bắc Trung Bộ ra, bắt đầu từ thế kỷ 15, họ mang theo từ Nác, cùng nghĩa. Hai từ Nác và Lước hòa trộn vào nhau thành từ Nước.
Xin bàn thêm, là từ Nước, chỉ quốc gia, hay xứ sở, có lẽ không phải là trường hợp cùng gốc với từ vừa thảo luận. Từ gần nghĩa và âm nhất của nó là Nưgar (cũng có thể phát âm là Nưkăn, trong tiếng Cham). Tôi cho rằng cặp đó mới là cùng gốc.
- Miệng gọi là “mính’’ 皿
Bính âm của chữ 皿 là min/ming
Tức là Miệng gọi là min/ming.
- Cha gọi là “tra” 吒
Bính âm của chữ 吒 là Chà hoặc Zha (gần âm với Cha) chứ không phải là Tra
Tức là trường hợp này cũng không có nhiều biến đổi.
- Mẹ gọi là mi 媚
Bính âm của chữ 媚 là mèi chứ không phải là Mi. Có thể thấy tiếng này từ đó đến nay ít biến đổi
- Con trai gọi là “can đa” 乾多. Con gái gọi là “vu đa” 于多, hay “can cái” 乾 葢 (bản 1); nam tử (男子) là tử đa (子多), nữ (女) là tử cái (子丐) (bản 2)
Trường hợp này có sự khác nhau rõ rệt giữa hai bản. Các từ được dịch Hán Việt lại đều có vẻ khá lạ lẫm.
Sau khi kiểm tra bính âm các chữ Hán và phân tích kỹ thì tôi nhận thấy bản 1 có cơ sở hơn. Xin diễn giải theo bản 1, như sau:
Con trai gọi là gan duo; con gái gọi là yu duo; con gái khác gọi là gan gài
Để ý rằng âm D ở đây nằm giữa âm D và Đ trong tiếng Việt, âm G thì hơi gần âm K/C.
Tức là ba từ trên có thể là: Con đó; Du đó (Du = con dâu); Con gái
Có thể hiểu rằng vị quan người Việt đang giới thiệu với khách về ba người trẻ, là con trai, con dâu và con gái (đang ở cùng)
Các âm này cũng không lạ lẫm mấy đối với người Việt hiện nay. Và đây lại là một trường hợp cho thấy sự gần gũi giữa âm Việt cổ và phương ngữ khu 5 hiện nay.
- Chồng gọi là “trùng” 重
Bính âm của chữ 重 là chóng/zhòng. Âm Zhòng khá gần với âm Chồng hiện nay, chứ không có Trùng nào cả
- Vợ gọi là “đà bị” 陀被
Bính âm của hai từ này là: duò bèi. Âm D gần với âm Đ.
Có thể thấy hiện nay phương ngữ khu 5 phát âm từ đàn-bà cũng gần giống vậy.
- Tốt gọi là “lãnh” 領 lǐng/leng. Không tốt gọi là “trang lãnh” 張領 (bản 1);
hảo (好) là phả (頗), bất hảo (不好) là trương phả (张頗) (bản 2)
Sau khi kiểm tra bính âm các chữ Hán và phân tích kỹ thì tôi nhận thấy bản 1 có cơ sở hơn.
Chữ 領 bính âm là lǐng/leng . Phương ngữ khu 5 phát âm từ Lành gần giống Leng.
Tức là người Việt ở thế kỷ 13 gọi Tốt là Leng (cũng có thể họ gọi là Lèng hay Lành, mà Trần Phu diễn tả chưa chính xác.
Không tốt được gọi là zhāng lǐng. Không tốt tức là chẳng lành. Theo phương ngữ khu 5 này nay từ này thì chẳng-lành cũng khá gần với âm quốc tế của từ zhāng lǐng.
Còn một số khái niệm là: Trời, Đất, Mặt trời, Trăng cũng được Trần Phu kể đến. Các trường hợp này tôi thấy giải thích chưa ổn lắm, tuy nhiên cũng tạm đưa ra đây để cùng trao đổi.
• Trời gọi là “bột mạt” 勃末
Bính âm cặp chữ Hán 勃末 là bómò
Trường hợp này khá khó hiểu. Nếu chấp nhận cách ghi nhận này tức là cho rằng ở thế kỷ 13 người Việt gọi Trời bằng một cái tên mà rất khác bây giờ.
Mặc dù nhiều phân tích đã chỉ ra âm Tr xuất hiện hoặc phổ biến trong tiếng Việt khá muộn. Các ký âm latin Ở thế kỷ 17 cho thấy như vậy. Người ta chép: Blời (Trời), Tlên (Trên) …
Hiện nay phương ngữ Việt nhiều nơi vẫn còn chưa phát âm rõ âm Tr. Trong tiếng Mường, một ngôn ngữ rất gần gũi với tiếng Việt, thì đến nay vẫn không có âm Tr.
Có thể thế kỷ 17 người ta đã nói là Blời, hoặc gần như thế, nhưng các bản An Nam tức sự đều có vấn đề ở chỗ này.
Có người nhận xét rằng trường hợp chữ 末 là do người ta chép nhầm từ chữ 耒 mà ra. Chữ 耒 bính âm là lěi , âm Hán Việt là Lỗi.
Tức là Trời vốn được gọi là bólěi (勃耒). Âm này quả đã gần giống Blời.
• Mặt Trời gọi là “phù bột mạt” 扶勃末
Theo điều tôi vừa phân tích thì trường hợp này cũng có thể chép nhầm, từ chữ 耒 ra chữ 末. Tức là đúng ra phải là 扶勃耒
Chữ đầu tiên là 扶, bính âm là Fú, Pú. Chữ này thực là có hai âm Hán Việt là Bồ và Phù. Liệu có khả năng âm Pú – Bồ mới là chính xác?
Các âm Việt sau: Bộ, Bọc, Bao, Bìa đều có thể chỉ cái bên ngoài, cái bộ mặt. Hai âm Bộ và Pú gần giống nhau.
Tức là người Việt đã gọi mặt trời bằng âm BoBlời (bộ mặt của Trời), gần giống âm Púbólěi, mà Trần Phu gán thành 扶勃耒
• Mặt Trăng gọi là “bột lăng” 勃菱
Hai chữ Hán này được bính âm là bólíng. Tức là âm này, chứ không phải “bột lăng”, mới gần với âm Trần Phu nghe được.
Theo ghi chép quốc ngữ của các thầy giảng đạo Thiên Chúa ở thể kỷ 17 thì Trăng được chép là blang. Có sự dịch chuyển từ âm i sang âm a theo thời gian. Xét thêm cả trường hợp gọi Miệng là min/ming thì có lẽ nhiều nguyên âm ngày xưa vốn là âm i rồi bị chuyễn hóa dần.
• Đất gọi là “đắc” 得
Chữ này có các bính âm Bắc Kinh là dē, dé , de , děi. Tuy nhiên âm Quảng Đông lại là dak, gần với âm Việt hiện nay nhất. Trường hợp này tôi thấy cần xem xét thêm.
Mời các bạn cùng thảo luận.

Tuesday, June 6, 2023

Đàng Trong

 

1. Cho đến nay khái niệm Đàng Trong vẫn được hiểu là tên gọi vùng lãnh thổ do các Chúa Nguyễn cát cứ, từ năm 1600.
Xin bàn về nhận thức đã mặc định này.
Thứ nhất, là với chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Họ khó có thể chấp nhận một khái niệm Đàng Trong – Đàng Ngoài, mang hàm ý coi chúa Nguyễn là kẻ chống đối ngang hàng.
Thứ hai, là về phía các chúa Nguyễn. Quê cha đất tổ của họ vẫn ở phía bắc, mặt khác các chúa Nguyễn vẫn nhận ở bên dưới nhà Lê, vậy thì không có lý do nào lại tự coi là Đàng Trong, mà chữ là 塘中 với nghĩa hiển nhiên chỉ trung tâm, trong sự đối lập với Đàng Ngoài, mang nghĩa là ngoại vi.
Tức là chúng ta cần phải tìm một lời giải thích cho sự hình thành cặp tên gọi Đàng Trong – Đàng Ngoài, mà hẳn phải có sẵn từ trước thời đại của các chúa Trịnh chúa Nguyễn, được hình thành trong một mối tương quan khác về tính chất.
Manh mối nào để tìm kiếm?
Thời gian gần đây tôi đã có những bài viết khám phá tiến trình lịch sử trên đất Việt Nam thời cổ. Theo đó thì có một triều đại xuất phát từ miền trong và từng cai quản cả miền ngoài. Triều đại này được sử Trung Quốc chép là 林邑 - Lin-yi, âm Việt là Lâm Ấp.
Tên 林邑 vốn là của quốc gia ở phía miền Bắc giai đoạn trước.
Cụ thể là đã có một nước Lâm Ấp tồn tại trên miền Bắc Bộ Việt Nam. Sau khi Mã Viện dẹp yên miền Lĩnh Nam, tức là Lưỡng Quảng, đã xâm chiếm nước Lâm Ấp vào năm 43. Khi nhà Hán bắt đầu sụp đổ thì người Lâm Ấp lấy lại độc lập, năm 193.
Một triều đình theo văn hóa Champa đã cai quản Lâm Ấp. Quốc gia Lâm Ấp thời kỳ này khá mạnh, từng nhiều lần tranh chấp vùng Lĩnh Nam, tức là phía Lưỡng Quảng, với các triều đình Trung Quốc trong thời kỳ Nam Bắc triều. Phía nam Lâm Ấp tiếp giáp với một đồng minh là nước Phù Nam. Vùng đất từ Đèo Cả trở về phía nam vốn là đất Phù Nam, rồi nhập vào nước hậu Lâm Ấp là Chiêm Thành ở thời điểm nào đó sau khi đế chế Phù Nam bị người Chân Lạp tiêu diệt vào thế kỷ 6.
Đến năm 605 nhà Tùy đánh Lâm Ấp. Khu vực bị xâm chiếm là miền núi phía đông bắc và miền đồng bằng ven biển kéo dài đến bờ bắc sông Cả.
Do triều đại Lâm Ấp này xuất phát từ phía nam, nên đã coi phía nam là trung tâm, tức là bên trong, phía bắc là miền ngoài. Tên gọi Đàng Trong và Đàng Ngoài hẳn phải xuất phát từ thời kỳ này.
Có thể nói thêm rằng cuộc chiến giữa Đại Việt và Chiêm Thành, quốc gia hậu Lâm Ấp, là một cuộc giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong. Cả trên phương diện tính chất mà lẫn trên phương diện danh nghĩa.
2. Triều đại Lâm Ấp và hệ thống từ Hán Việt
Từ Hán Việt, hay cũng có thể gọi là âm Hán Việt, là một hệ thống cách đọc các chữ Hán ở trên địa bàn nay là Việt Nam, phần lớn không theo cách đọc của người Hán.
Ngoài ra còn có thể một hệ thống chữ, chế từ chữ Hán, để ghi những khái niệm mà không thể biểu đạt được bằng vốn chữ Hán có sẵn. Người ta gọi đó là chữ Nôm.
Cho đến nay thì không ai đưa ra được chứng cứ là hệ thống từ Hán Việt và các chữ Nôm được khởi tạo từ lúc nào. Dường như bước vào thời mà người ta coi là thoát khỏi Bắc thuộc thì người Việt đã có sẵn để dùng vậy.
Âm NÔM cũng có nghĩa là NAM, theo phát âm của nhiều khu vực phía trong, bao gồm cả vùng Quảng Nam, trung tâm của Lâm Ấp. Mặt khác, tôi đã chỉ ra rất nhiều sự giống nhau giữa âm Champa, mà người Cham hiện nay còn lưu trữ, với âm Hán Việt khi chỉ cùng một khái niệm.
Có một tập hợp khá nhiều âm đọc chữ Hán khác nhau giữa hai miền Nam Bắc:
- hạp - hợp
- chánh - chính
- kiểng - cảnh
- san - sơn
- thới - thái
- bửu - bảo
- bổn - bản
- nhựt - nhật
- sanh - sinh
- tánh - tính
- lãnh - lĩnh
- thỉ - thủy
- huỳnh - hoàng
- phước - phúc
- cang - cương

Cánh giải thích phổ biến hiện nay rằng đó là do người dân phía nam kiêng các tên húy của nhà Nguyễn.
Theo cách này, người ta chỉ nêu ra được một số ít trường hợp. Thí dụ gọi là Huỳnh để tránh tên của Nguyễn Hoàng, gọi là Phước để tránh tên lót của họ Nguyễn Phúc…
Thực tế thì việc kỵ húy chủ yếu chỉ áp dụng trong văn viết. Trong lời nói hàng ngày, nếu không muốn dân chúng nhắc đến từ đó thì người ta chỉ có thể hạn chế bằng cách đổi chữ đi, chứ khó mà bắt dân chúng đồng loạt nói trệch đọc trệch được. Ví dụ nhà Trần bắt đổi từ chữ chỉ họ Lý là 李 ra chữ Nguyễn là 阮 khi muốn xóa họ Lý đi. Ngay ở phía bắc, nơi trải qua một thời gian chịu ảnh hưởng Nho giáo lâu hơn, thì cũng không phổ biến hiện tượng các phiên bản phái sinh do sự kỵ húy.
Nếu cho rằng người di cư từ phía bắc vào rồi tự phát âm khác đi như vậy thì cũng không có cơ sở.
Tức là những âm đọc chữ Hán đặc thù của phía nam hẳn đã tồn tại từ trước thời chúa Nguyễn.
Vậy thì có thể cho rằng chính triều đại Lâm Ấp này đã tiếp thu chữ Hán của nền văn minh Trung Quốc, và đặt âm cho chúng dựa trên âm bản địa.
Các âm Hán Việt ở phía nam thậm chí còn cổ hơn âm ở phía bắc. Nếu để ý bảng trên thì chúng ta có thể thấy rằng các từ phía Đàng Trong được phát âm dễ hơn, ít phải sử dụng việc uốn môi uốn lưỡi hơn, thì có thể giải thích rằng cách phát âm ở Đàng Ngoài là kết quả sự cầu kỳ dần theo thời gian, dưới ảnh hưởng lâu dài của các ngôn ngữ đơn âm tiết của các nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Hán ở phía bắc.
Champa là một chế độ chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Tuy nhiên với sự vươn dần ảnh hưởng của Trung Quốc xuống phía nam thì việc nhà nước chủ trương tiếp thu cả chữ Hán để kết nối làm ăn và học hỏi từ nền văn minh lớn này chẳng có gì lạ.
Bạn đọc có thể xem một số bài viết trước để hiểu rõ hơn;
- https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../lan-nay.../...
- https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../thu-xac-dinh-vi.../
- https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../lam-ap-hoan.../...
- https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../nhung-nhan.../...
- https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../moi-lien-he.../...

Khảo cứu về họ Phan

 

Họ Phan ở Trung Quốc, chữ Hán là 潘, âm Trung Quốc là bō hoặc fān.
Theo sách Bách gia tính, được soạn từ thời nhà Tống và sau này còn được bổ sung nhiều, thì một hậu duệ của nhà Chu được ăn thái ấp ở đất 潘, rồi lấy tên ấp làm họ.
Sách này còn chép họ Bành là xuất xứ từ ông Bành Tổ, sống 800 năm. Một chi tiết chứng tỏ sự thiếu tin cậy. Thời điểm bắt đầu chép sách đã sau nhà Chu trên 1000 năm.
Họ Phan ở Việt Nam cũng có chữ Hán là 潘, nhưng không phát âm là bō
Những người theo thuyết nguồn gốc người Việt là từ phương Bắc có thể căn cứ trên sự giống nhau về văn tự để gắn các họ ở Việt Nam vào nguồn gốc Trung Quốc. Tuy nhiên thực tế không đơn giản như vậy.
Sau đây xin trình bày một số cơ sở.
1. Họ Phan của người Chiêm Thành
Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận một số nhân vật họ Phan gốc Chiêm Thành hoạt động trên đất Đại Việt:
- Phan Ma Lôi, trợ thủ đắc lực của Nguyễn Nộn, cuối thời Lý.
- Phan Mỗ, năm 1448 dẫn 340 hơn người sang hàng, được chia ra ở các đạo.
- Phan Ất, bè đảng của Trần Cung, con trai Trần Cảo.
Chiêm Thành là xứ sở chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ là chính, chứ không phải từ Trung Quốc, vì vậy không thể nói rằng các nhân vật trên có gốc gác từ Trung Quốc. Vậy tại sao lại có họ Phan?
Nếu để ý rằng họ có thể là thủ lĩnh của một nhóm người Chiêm Thành, và biết thêm rằng trong tiếng Chiêm thì thủ lĩnh được gọi là PO, mà âm này trùng với một âm của chữ Hán 潘 chỉ họ Phan thì chúng ta có thể lý giải rằng người ta mượn chữ Hán trùng âm để chép tên các vị PO MA LÔI, PO MỖ, PO ẤT. Tức là thực tế các nhân vật này không phải họ Phan.
Rồi con cháu của những vị thủ lĩnh như vậy sống trên đất Đại Việt lấy chữ đó, cùng với âm PHAN, làm họ.
2. Một bản phổ chí họ Phan, được viết lại vào năm 1806, dựa trên các truyền ngôn, ghi nhận tổ tiên là các vua Chiêm Thành (https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/20705)
Bản phổ chí còn cho biết đến thời nhà Trần người Chiêm Thành còn làm chủ đến lộ Đà Giang, vùng núi phía tây bắc Việt Nam ngày nay. Sau đó một viên cố vấn người Trung Hoa là Trịnh Giác Mật giết con vua Chiêm Thành và đoạt lấy, rồi rút cục về tay nhà Trần của Đại Việt. Nội dung này không được chép trong sử Việt, nên ngày nay người ta không thừa nhận. Tuy nhiên một số bộ sử Trung Quốc có niên đại sớm hơn nhiều, như Tân Ngũ Đại Sử, Tống Sử cho biết Chiêm Thành phía tây giáp đến Vân Nam, đây là các chi tiết khó có thể bác bỏ. Vậy thì thời Lý Trần ranh giới Đại Việt và Chiêm Thành không hẳn tương ứng theo vĩ độ như sử của chúng ta vẫn chép, mà thực ra nước Chiêm Thành ở cả về phía tây và phía nam của Đại Việt, cuộc mở rộng của Đại Việt theo hai hướng chứ không phải chỉ mỗi hướng nam.
Bản phổ chí còn cho biết về cuộc sáp nhập Chiêm Thành vào Đại Việt ngay trước nguy cơ thôn tính của nhà Nguyên. Đối chiếu với các nguồn sử Việt Nam và Trung Quốc thì chúng ta có thể hình dung như sau:
Các vị tổ của tộc Phan này là thủ lĩnh của một tiểu quốc thuộc Chiêm Thành. Chiêm Thành là một quốc gia rộng lớn, mà theo ghi nhận trong Tống sử thì chiều dài tới 3.000 dặm, chiều ngang 700 dặm, tức là bề dài phải kéo từ phía Vân Nam đến ngang với Nam Trung Bộ Việt Nam, và bề ngang phải kéo từ bờ biển Việt Nam sang rất sâu bên nước Lào ngày này. Rất có thể vùng Bồn Man ở Trung Lào và vùng Champasak ở Nam Lào ngày nay cũng từng thuộc đất Champa. Chính thủ lĩnh tiểu quốc này, chứ không phải cả nước Chiêm Thành, đã nhập vào Đại Việt. Họ được làm thông gia với nhà Trần và được giao trấn giữ địa bàn cũ.
Vậy thì vùng sáp nhập phải nằm ở phía tây của miền Bắc Trung Bộ và có thể sang cả lãnh thổ nước Lào ngày nay.
3. Một số họ Phan ở Nghệ An
- Phan Quý Hựu coi giữ Nghệ An từ trước cuộc xâm lăng của nhà Minh, sau hàng Trương Phụ. Con là Phan Liêu được Trương Phụ cho làm tri phủ Nghệ An. Ngoài ra còn có anh họ Phan Liêu là Phan Kiệt được làm Đồng tri châu phủ Trấn Man, nay là đất Lào, ở về phía tây tỉnh Thanh Hóa. Chức Đồng tri châu thường được dành cho thổ quan, tức là người bản địa.
Sử Việt cho biết Phan Liêu từng cung cấp thông tin về quân của Trùng Quang Đế cho Trương Phụ, khiến cuộc khởi nghĩa bị dẹp. Năm 1419 Phan Liêu vì bất mãn với Mã Kỳ nên giết nhiều quan quân nhà Minh rồi chạy sang Ai Lao. Phan Kiệt trốn theo Phan Liêu nhưng không thoát, bị giết. Sau Phan Liêu bị Lê Thái Tổ giết vì tội từng hợp tác với Trương Phụ.
Theo bộ Minh sử thì Phan Liêu có phục vụ Lê Lợi sau khi bỏ quân Minh. Quyển 321 – phần An Nam, cho biết trong khoảng năm 1423 đến 1425 Lê Lợi sai Phan Liêu và Lộ Văn Luật đến các châu Gia Hưng, Quảng Oai [tức là miền đất rộng lớn phía tây Thăng Long] chiêu tập đồ chúng, thanh thế ngày càng lan xa.
Như vậy thì Phan Liêu và Lộ Văn Luật thực ra có vai trò rất lớn trong thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhờ ảnh hưởng của họ trong một khối dân chúng. Sở dĩ sử không chép công của hai nhân vật này mà chỉ chép tội là để cho việc bắt tội được hợp lý. Sở dĩ họ bị xử vì tội cũ, là do chính sách tập trung quyền lực về trung ương dưới thời nhà Lê, mà những thủ lĩnh có hậu thuẫn mạnh ở địa phương là một cản trở trực tiếp hoặc là mối nguy cơ tiềm ẩn. Các nhân vật như Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái, Đèo Cát Hãn cũng là nhưng trường hợp tương tự.
Rất có thể nhóm họ Phan này cũng là con cháu quý tộc Chiêm Thành.
- Gia phả dòng họ Phan của Thám hoa Phan Kính (thế kỷ 18) ở Can Lộc, Hà Tĩnh chép: “Con cháu ta là dòng dõi thủ lĩnh Nghệ An trại chủ, quan Nội hầu thuộc triều Trần, tỉnh Nghệ An” (1). Tên của vị trại chủ không được nêu, không biết có liên quan gì đến gia tộc Phan Quý Hựu hay không?
- Gia phả của dòng họ Phan Huy, trong đó có nhiều nhân vật rất nổi tiếng, ghi nhận tổ tiên thuộc ty Giáo phường [tức là một tổ chức hát ca trù, hát cửa đình] (2). Vị đầu tiên được chép trong phả là một nhân vật được phụng chỉ coi viêc Giáo phường làm phân trưởng cửa đình ở huyện, dưới thời Lê Thánh Tông. Vị này được gọi là Ông Trằm, tên thật không được chép.
Lý giải cho cái tên Ông Trằm, phả cho biết do lúc đó mới nhập tịch vào phía tây xứ Trầm Vịt, thôn Chi Bông, xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc. Từ việc không chép tên thật đến việc gán tên vị nhạc công vào với xứ Trầm Vịt, có vẻ hơi khiên cưỡng, tôi cho rằng có thể có một cách giải thích khác. Vị này là một quý tộc Chiêm Thành, đã bị bắt hoặc theo về Đại Việt, vì thế được gọi là ông Chàm, mà người ta chép trệch là Trằm. Những quý tộc Chiêm Thành là bậc thầy của Đại Việt về âm nhạc và nghệ thuật nói chung, do đó họ vẫn được sử dụng.
Tạm kết luận
Không thể lấy chữ 潘trùng nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà cũng có thể mở rộng ra cho các họ khác, để cho rằng họ cùng một nguồn gốc. Rất có khả năng nhiều nhóm họ Phan ở Việt Nam có nguồn gốc từ quý tộc Chiêm Thành.
Bài viết của tôi dựa trên những tài liệu được xuất bản chính thức, tức là tôi được quyền nghiên cứu và nêu ra giả thiết. Tuy nhiên tôi hiểu rằng với người Việt ngày nay thì nghiên cứu về dòng họ là một vấn đề nhạy cảm. Nói điều này để các bạn có tham gia bình luận thì vui lòng để ý.
Chú thích:
1. Nội dung này được trích từ cuốn Phan Công Gia Phả, Nxb Thế Giới, 2006, trang 13
2. Phan Công Gia Phả, sđd, tr33,34

Tản mạn về ngôn ngữ

 

Bài viết này bàn về một số điểm liên quan đến chữ Hán và từ Hán Việt.
Trước hết xin đề cập về các khái niệm Từ và Tự, được định nghĩa trong một số sách vở.
Từ, là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu.
Tự là âm Hán Việt của chữ Hán 字, chỉ chữ viết. Âm Hán Quan Thoại/Quảng Đông của chữ này là zì/zi. Với chữ Hán thì mỗi Tự thường biểu diễn một Từ.
Như yậy, Từ là cái có trước, xuất hiện từ khi con người có lời ăn tiếng nói, còn Tự hay Chữ là cái có sau.
Chữ Hán là dạng chữ tượng hình, không có tính biểu âm, do đó mỗi chữ có thể có nhiều cách phát âm khác hẳn nhau, tùy theo khu vực, mặc dù cùng biểu đạt một nội dung. Nói cách khác là Tự hay Chữ thì chung mà Từ thì không nhất thiết chung. Ví dụ chữ 車, chỉ cái xe, âm Quan Thoại là chē hoặc jū , âm Quảng Đông là ce hoặc geoi, âm Hán Việt là xa.
Nhiều ý kiến cho rằng loại âm mà được gọi là Hán Việt là một thứ âm Hán cổ, du nhập vào Việt Nam, nay đã không còn được dùng ở Trung Quốc nữa.
Cách lập luận này có vấn đề ở chỗ là sẽ phải công nhận rằng ngôn ngữ Trung Quốc hiện nay đã bỏ mất rất nhiều âm cổ.
Để minh họa, tôi xin trích một ý kiến như sau: “Một ngôn ngữ phân biệt bằng âm thanh, hình thái, và ý nghĩa. Về âm, Việt Nho gần giống nhưng phong phú hơn Quan-thoại nhiều. Âm Bắc-kinh chỉ có 400 (theo hệ thống phiên âm Wade−Giles), trong khi Việt Nho có cả hàng ngàn. Việt Nho trung thực và bảo tồn được chữ Nho với âm thái cổ trong khi giọng Bắc-kinh mất những ngữ vị đầu và cuối như B−, D−, G−, R−, TR−, V−, và −CH, −K, −M, −P, −T (Y.R. Chao mục “Chinese Language” trong Encyclopedia Britannica, 1965). Về thanh, Việt Nho hơn hẳn tứ thanh của Quan thoại vì có tới 8 thanh”. (Bài: Khảo cứu ngắn về chữ viết Việt. Tác giả: Đào Mông Nam & Nguyễn Tiến Văn)
Chúng ta đều biết rằng dân tộc Trung Hoa là một dân tộc lớn, xét trên cả quy mô dân số cũng như bề dày văn hóa. Họ đồng hóa luôn cả những lực lượng ngoại lai đến đô hộ. Vì vậy có thể khẳng định là không có yếu tố nào có thể làm cho ngôn ngữ của họ biến dạng đến mức như vậy được.
Tức là phải xem xét lại quan niệm xếp tập hợp từ Hán Việt vào tập hợp con của ngôn ngữ Trung Hoa, dù là Trung Hoa cổ.
Trường hợp từ Xa, biểu thị âm của chữ 車 (zì/zi), không thể mặc nhiên coi đó là một từ gốc Hán, rồi người Việt đọc trệch dần thành Xe, như cách giải thích rất phổ biến cho đến ngày nay.
Chúng ta thử tìm hiểu nguồn từ Xa (xe), theo hướng khác.
Có lẽ khi muốn phổ chữ 車 và âm Xa thì hẳn người ta sẽ kèm theo đó hình minh họa của một cái xe ngựa, vì ngày xưa ngựa là hình ảnh liên quan gần nhất đến cái xe.
Tên con ngựa, theo âm Khmer là seh (chữ là សេះ), theo âm Chàm là asaih. Có thể thấy rằng hai âm này khá gần nhau, tức là xuất phát từ một gốc chung khá gần. Mà âm Khmer và âm Chàm cũng có mối liên hệ rất gần với ngôn ngữ Việt ngày nay. Một điểm nữa là trong ngôn ngữ của dân vùng Khu 5 thì các từ sa, xa, se, xe được phát âm khá gần nhau và gần với âm của Khmer và Chàm, tức là họ nói các từ này theo âm cổ hơn so với âm Viêt phổ thông ngày nay. Tóm lại, chúng ta có cơ sở để cho rằng các từ Xa và Xe vốn có xuất phát là để chỉ con ngựa, rồi qua quá trình biến đổi tiếng Việt đã phân hóa và kết hợp từ mà thành các âm khác nhau và chỉ cái xe ngựa, rồi thành các loại xe nói chung.
Xin nói rõ thêm về nhận định trên, tôi đã kiếm chứng được rất nhiều trường hợp có liên hệ rõ ràng giữa âm Việt và Chàm, cũng như giữa âm Hán Việt và âm Chàm, chứ không phải âm Hán, khi chỉ cùng khái niệm, tức là có chung chữ Hán. Bảng kết quả sẽ được công bố sau. Bạn đọc có thể tạm xem bài viết:
https://hoangcuongviet.wordpress.com/.../moi-lien-he.../...
Xin nêu thêm ở đây một vài trường hợp.
Trong tiếng Chàm, tức là một thứ tiếng trên dải đất chữ S mà người Chàm đang lưu giữ, thì có các từ là hachan – nghĩa là mưa, và hakoh/hatua – nghĩa là khô, cạn. Tức là các âm này có liên quan đến khái niệm nước. Tôi tra cứu thêm thì thấy trên Wikipedia có các thông tin như sau:
• Sông Hà Ra (Thạnh Mỹ), phụ lưu của Đắk Mi hay sông Vu Gia, chảy ở huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam.
• Sông Hà Ra (Nha Trang) tỉnh Khánh Hòa
• Cửa Hà Ra, cửa sông ở xã Mỹ Đức, Phù Mỹ tỉnh Bình Định.
Ngoài ra, sông Côn, một con sông lớn ở Bình Định cũng có đoạn được gọi là sông Hà Giao hay Hà Rêu.
Một bạn cho biết ở Quảng Bình cũng có sông (chi nhánh của sông Nhật Lệ) mà tên các địa danh từ đầu đến cuối đều mang tên Hà.
Chúng ta cũng có thể thấy sự liên hệ gần về âm và nghĩa giữa ngôn ngữ Chàm và Việt như sau: hachan (mưa) – chan (chan nước); hakoh (khô) – khô (khô cạn); hatua (khô, cạn) – tủa (tủa – một từ dân gian được sử dụng để tạo ra từ kết tủa, khái niệm chỉ phản ứng hóa học mà vật chất chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn)
Bây giờ chúng ta thử xét đến một số từ Hán Việt có nghĩa liên quan đến nước, tức là liên quan đến hà, hachan, hakoh, hatua
- Can, Cán (khô, cạn kiệt). Chữ và âm Hán là 干 gan/gon
- Hà (sông). 渴 hé/ho
- Tuyết (tuyết). 雪 xue/syut
Có thể thấy rằng ở trường hợp thứ nhất thì âm C là bản địa chứ hoàn toàn không phải âm Hán. Tương tự là âm À ở trường hợp thứ hai và âm T ở trường hợp thứ ba.
Một ví dụ nữa là từ hatah (nghĩa là tỏ, tinh mắt), trọng âm ở âm tiết thứ hai. Thực tế thì người Khu 5 phát âm chỉ khái niệm này khá giống âm Chàm, họ nói gần với Tah hơn là Tỏ.
Chúng ta thử xét một số từ Hán Việt liên quan:
- Tinh, Tình (tròng mắt). 睛 jing
- Tinh (sáng sủa). 晶 jing
- Tường (rõ). 詳 xiáng/coeng
- Tiêu (đêm, nhỏ bé). 宵 xiao/siu
- Tiêu (mốc, dấu hiệu). 梢 shāo/saau
Các chữ mà khi phát âm có phụ âm đầu rất khác biệt trong ngôn ngữ Trung Hoa đã được chuyển sang âm Việt đều có âm T ở đầu, giống với âm T trong hatah.
Trường hợp từ pateh (nghĩa là lụa). Chúng ta thử xem xét một số từ Hán Việt liên quan:
- Tác (dây tơ). 索 suo/saak - Tàm (con tằm). 蚕 cán, tiăn/căm
- Ty (sợi tơ). 丝 si/si
- Tảo (ươm tơ). 繅 sao/sou
- Tang (cây dâu). 桑 sāng/song
- Tiêu (lụa dệt bằng tơ sống). 綃 shāo/siu
- Tuần (dây tơ tròn nhỏ). 紃 xún /ceon
- Tệ (vải lụa). 币 bì/bai
Trường hợp từ tian (nghĩa là tâm, tấm lòng)
- Tâm (trái tim, tình cảm). 心 xin, sam
- Tình (tình cảm). 情 qíng/cing
- Tư (thương nhớ). 思 sai/si
- Ta (cảm thương, thương xót). 嗟 jiē/ze
- Tuất (thương xót, thương hại). 恤 xù/seot
Qua trình bày trên có thể nói rằng có sự mượn âm Hán để tạo ra các âm Hán Việt nhưng không phải tất cả đều như vậy. Tức là đó không phải là nguyên tắc bắt buộc, và không thể gọi là bắt chước. Do đó cách gọi hệ thống từ mà chúng ta gán với các chữ Hán là từ Hán Việt là không hẳn chính xác. Việc gọi đó là từ gốc Hán lại càng sai.
Ở khía cạnh khác, chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng rõ ràng của âm bản địa cổ, mà người Chàm đang lưu giữ, lên sự hình thành âm Hán Việt là rõ ràng. Có thể coi đó là là yếu tố chủ đạo chi phối việc đặt âm Hán Việt. Sở dĩ người ta cứ gán âm Hán Việt vào gốc Hán, ngoài yếu tố ngộ nhận lịch sử thì vì chúng có liên hệ không ít về phương diện phát âm. Xin thử nêu ra một số lý do. Thứ nhất là chúng cùng có tính chất đơn âm tiết. Thứ hai là nhiều từ phát âm giống nhau do khái niệm đó vốn chỉ có ở Trung Quốc nên người bản địa phải vay mượn cả chữ và âm. Thứ ba là người ta đã có ý thức tạo ra sự kết hợp âm bản địa và âm Hán để tạo ra âm Hán Việt, mà mục đích là tạo ra sự liên tưởng để cho người học dễ nhớ, đồng thời đó cũng là một quy tắc để tạo từ.
Nhận thức này không chỉ giúp chúng ta xét lại về ngôn ngữ dân tộc mà còn giúp chúng ta có cơ sở để khám phá về lịch sử dân tộc.