Search This Blog

Thursday, May 7, 2026

Kinh, Mường...

 Giải thích vài từ ngữ                       


• Mường
Mường còn được gọi là là man. Từ “man”  (còn có âm là "mang", bảo lưu trong tiếng Việt phương Nam), có nghĩa là lạc hậu, chưa được khai hóa. "Mang" chuyển hóa thành "Mường". 
Sự chuyển hóa âm ang – ương và ngược lại là khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ: máng – mương; đàng – đường; tràng – trường; gắng – gượng; cúng dâng – cúng dường; cang – cương; dang – dương; nàng – nương…


• Kinh 

Kinh có nghĩa là trải qua, ràng buộc, sửa sang…

Tức là từ Kinh chỉ người Kinh mang ý nghĩa là nhóm dân đã chịu sự ràng buộc của nhà nước cai trị, đã được giáo hóa.
Địa bàn ban đầu của người Kinh là vùng đồng bằng Bắc Bộ, hay là tứ trấn, hay là nội trấn. Người Mường ở ngoại trấn.

• Trại

Từ này phát âm theo tiếng đồng bằng Bắc Bộ và nhiều khu vực khác là “chại”, chính là “chạy”. Trại trong cặp phạm trù Kinh – Trại vốn chỉ các nhóm dân chạy thoát ra khỏi sự ràng buộc của nhà nước cai trị ở Bắc Bộ. Họ chủ yếu chạy vào khu vực Bắc Trung Bộ, nên vùng này cũng được gọi là Trại.


• Tầu/tàu

Tầu/tàu, phát âm theo tiếng Việt phương Nam là Tào. Tầu/tàu/tào là chỉ cái/bọn ở bên trên, bọn trùm. 

Hai phụ âm đ và t rất gần gũi về mặt cấu âm, đều là các phụ âm đầu lưỡi – răng. Chính vì vậy trong nhiều trường hợp chúng được dùng với vai trò như nhau. Ví dụ: đớp - tớp, đắp - tấp. TẺE TẢT TẺE RẢC = ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC (sử thi Mường). Nam Tào - Bắc Đẩu tức là Nam Đầu - Bắc Đầu, tức là trùm Nam - trùm Bắc.

• Các phạm trù Tầu, Kinh, Mường, Trại liên quan như sau:

Đám từ phương Bắc xâm lược và cai trị phương nam được gọi là bọn Tầu/Tàu/Tào, tức là bọn trùm. Chữ曹 đọc là Tào, chỉ nước Tào/Tầu/Tàu, chỉ bọn quan. 

Đám ở đồng bằng Bắc Bộ bị cai trị và bị Hán hóa sớm nhất. Họ được gọi là Kinh, tức là được coi đã bị ràng buộc, giáo hóa.

Đám ở bên ngoài, không hoặc rất ít chịu giáo hóa được gọi là man/mang, nghĩa là mông muội. Từ “Mang” chuyển hóa thành từ “Mường”. Bản Mường tức là Bang Mang/Man, tức là vùng đất của người Man/Mường.

Dân bỏ chạy khỏi sự cai trị gọi là chại/chạy, sau gọi chệch thành Trại. Họ bị Hán hóa muộn hơn.
Sự Hán hóa ở Việt Nam là một tiến trình hiếm khi có đảo ngược, mà lý do hiển nhiên là nó tạo ra những phẩm chất xã hội phù hợp với nhu cầu cai trị của các nhà nước phong kiến Việt Nam.

                      
  
• Dịt Dàng

Dịt Dàng là vị vua trong thần thoại của người Mường, được nhắc đến trong bộ sử thi TẺE TẢT TẺE RẢC (ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC).

"Dịt" tức là "Việt". "Dịt" là phát âm theo giọng phương Nam và cũng khá gần với phát âm trong tiếng Quảng Đông. Sự biến âm có thể theo chiều d/gi sang v chứ không phải chiều ngược lại.

"Dàng" tức là Dâng/Dương. Có thể ban đầu chỉ sự cao lên và chỉ cái bên trên, sau mở rộng ra, chỉ ông Trời, chỉ vua (dang/dương (tiếng Nam)/vương.

Tức là: Dịt Dàng = Dịt Dương = Việt Vương


• Tóm lại

Người Kinh, Mường, Trại vốn cũng thuộc một nhóm mà vốn gọi là Dịt mà nay trong tiếng Việt phổ thông gọi là Việt. Có thể kể thêm một bộ phận người Trung Hoa cũng thuộc nhóm này.

Cách phân chia nhóm Kinh/Mường nay không còn phù hợp. Nên bỏ cả hai tên gọi này, nên gọi chung là Việt.