Search This Blog

Saturday, October 10, 2020

Về sự kiện biên giới năm 1540 giữa nhà Minh và nhà Mạc

 

Đặt vấn đề:

Từ trước cho đến gần đây chi tiết về sự kiện biên giới năm 1540 giữa nhà Minh và nhà Mạc được chép trong sử Việt khá ít ỏi, mặc dù đây là một sự kiện lớn, chưa bao giờ hết thu hút sự quan tâm của người Việt.

Sở dĩ có tình trạng như thế là bởi nguồn ghi chép từ nhà Mạc đã bị hủy hoại cùng với sự thất bại của triều đại này. Mặt khác, do ý thức đối kháng với nhà Mạc nên các nhà viết sử dưới thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn có xu hướng chỉ đưa ra một số thông tin phục vụ việc bôi nhọ đối phương, thay vì đưa ra một bức tranh toàn cảnh về sự kiện.

Ngày nay, với việc chọn dịch và xuất bản một phần bộ sách Minh Thực lục, phần liên quan đến Việt Nam, vốn nằm rải rác trong bộ sách rất đồ sộ chứa những ghi chép đương thời của triều đình nhà Minh, đã hé mở rất nhiều thông tin về diễn biến. Mặt khác, đã có thêm nhiều nghiên cứu về nhà Mạc ở Việt Nam, đưa ra những nhận định mới. Vì vậy sự kiện biên giới năm 1540 cần phải được xem xét lại một cách đầy đủ hơn.

Trong bài viết này, người viết sử dụng bản dịch Minh Thực lục của Hồ Bạch Thảo, do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2010. Để người đọc tiện theo dõi, tác giả bài viết sử dụng ngày tháng đã được dịch giả chuyển đổi sang dương lịch. Ví dụ (8/9/1539) tương đương với nội dung trên bản dịch là: "ngày 26 tháng 7 nhuận năm Gia Tĩnh thứ 18 [8/9/1539]."


Diễn biến bên phía Trung Quốc

Theo Minh Thực lục thì Minh Thế tông bắt đầu tập trung về vấn đề An Nam từ cuối năm 1536. Nhà Minh quyết định chinh phạt với lý do An Nam từ lâu bỏ việc triều cống. 

Ghi chép của nhà Minh còn cho biết phái đoàn Trịnh Duy Liêu do Nguyễn Kim cử sang cáo nạn chỉ đến được kinh đô nhà Minh vào đầu năm 1537, bởi hành trình rất khó khăn. 

Tức là họ đến sau khi nhà Minh có chủ trương đánh An Nam.

Mặt khác tài liệu này cũng cho biết lý do nhà Mạc không sang triều cống là do quan giữ ải của phía nhà Minh ngăn cản. Lý do ngăn cản được viên Tả thị lang bộ Hộ Đường Trụ nói rõ, là quan giữ cửa ải thấy tên trên tờ biểu không đúng nên không cho qua. Có thể hiểu là họ không cho nhà Mạc cơ hội trình bày.

Vậy lý do ban đầu là trừng phạt An Nam vì không đến triều cống. Chiêu bài giúp khôi phục nhà Lê chỉ là cái cớ được thêm vào sau. Có thể Minh Thế tông muốn nhân cơ hội để thôn tính An Nam.

Đây là xu thế tự nhiên và đã qua kiểm nghiệm của lịch sử. Không phải vô cớ mà nhiều triều thần nhà Minh như Tả thị lang bộ Hộ Đường Trụ, Tả thị lang bộ Binh Phan Trân, Đề đốc Lưỡng Quảng Phan Đán, Tuần án Quảng Đông Dư Quang đã đề cập rằng An Nam là xứ người Trung Quốc không thể cai trị trong lời can ngăn Minh Thế tông.

Tuy quy mô nguồn lực lớn hơn rất nhiều so với An Nam nhưng phía Trung Quốc cũng có những vấn đề khó khăn.

+ Sự chia rẽ ý kiến. Có những quan điểm cho rằng trong nước khó khăn, không nên bày việc đánh An Nam, hoặc nói không cần phải đánh An Nam mà để nước đó tự ổn, hoặc nói không nhất thiết phải bênh vực nhà Lê mà cứ chấp nhận cho nhà Mạc triều cống, hoặc viện dẫn những thất bại trước kia để nói rằng An Nam là xứ có chiếm được rồi cũng phải bỏ chứ không thể cai trị được...Minh Thế tông phải quyết liệt trừng phạt những người phản đối. Lột chức và cho thôi việc Tả Thị lang bộ Binh Phan Trân, cắt bổng Giám sát ngự sử đạo Hồ Quảng Từ Cửu Cao hai tháng, đoạt lương Tuần án Quảng Đông Ngự sử Dư Quang một năm. Y còn trách rằng đã nghe được các khanh sĩ đại phu bàn bạc riêng với nhau là không cần đánh, những người có trách nhiệm mà không chủ trì, hiệp lực, việc gì cũng ủy cho hội nghị.

+ Khả năng huy động và sự tự tin. Vấn đề này có thể được hé lộ qua lời tâu của Đề Đốc Lưỡng Quảng Thị lang bộ Binh Thái Kinh, rằng để tiến binh thì ước tính cho 30 vạn binh, trong một năm cần 160 vạn thạch lương thực, việc đóng thuyền, mua ngựa, khao thưởng, khí giới, các phí tổn khoảng 70 vạn lạng bạc. Quân lính tại Lưỡng Quảng không kể lính canh gác tại địa phương thì có không quá 12 vạn, chỉ đủ 1/3 nhu cầu. Lương thực tại đây có thể huy động không quá 40 vạn thạch, chỉ đủ 1/4 nhu cầu. Tiền bạc lấy được từ các ngân khố chỉ hơn 30 vạn, chỉ khoảng một nửa. Nếu trong một năm việc binh chưa xong thì con số không dừng tại đó.

 Trước những khó khăn, Minh Thế tông từng hoãn binh và lựa chọn phương án khác. Y quyết định cho người đi sứ An Nam, nói là báo tin về việc tôn vinh ông nội của mình, tuy nhiên sứ mệnh thực tế của viên sứ giả lại không phải như thế. Sứ giả Hoàng Oản được sắc chỉ điều tiết tất cả các quan ở các tỉnh Vân, Quý, Lưỡng Quảng, lại được cấp cho ấn Quan phòng để tiện nghi hành sự. Lại xin xem các tờ biểu của An Nam được lưu lại để nhằm phân biệt con giấu thật của An Nam mà Mạc Đăng Dung và Lê Ninh đều nói là mình đang giữ. Oản lại nói rằng chỉ lo thiệt hại cho quốc gia chứ thân mình không đáng lo, lại xin nhiều đặc ân, rốt cuộc vẫn tìm nhiều cách để trì hoãn. Những chi tiết đó cho thấy nhiệm vụ thực sự của sứ đoàn này rất lớn, có thể là tìm cách chủ trì việc phân ngôi vị ở An Nam hoặc nhân thể không chế mà đoạt lấy nước. Dĩ nhiên đây là nhiệm vụ nguy hiểm, bởi vì nhà Mạc buộc phải chính thức kháng cự, nhưng nếu như vậy thì Minh Thế tông lại loại bỏ được tâm lý phản đối trong nội bộ nhà Minh. Hoàng Oản, vốn đã được thăng lên Thượng thư bộ Lễ để làm chánh sứ, có lẽ đã ý thức được sự nguy hiểm với bản thân, nên không chịu đi, rút cục bị cách chức.

Sau khi trấn áp những ý kiến phản đối thì chỉ còn ý kiến ủng hộ. 

Minh Thế tông quyết định gấp rút xuất binh, Đáp ứng mọi lời xin về điều động quân dân và lưu giữ tiền thuế để phục vụ đánh An Nam, lệnh giới hạn ba ngày cho mọi tấu phúc và phán rằng cha con Phương [Đăng] Doanh phải bị chết. (31/7/1540)

Y còn cao hứng làm thơ tiễn đại tướng cầm quân. Nội dung bài thơ này, theo một bản dịch tiếng Việt:

"Đại tướng Nam chinh khẳng khái sao
Lưng đeo sáng quắc nhạn linh đao
Gió lay trống trận sơn hà động
Chớp nhoáng cờ đồn nhật nguyệt cao
Trời thẳm kỳ lân sinh giống sẵn
Hang sâu kiến cỏ trốn đằng nào?
Thái bình khi chiếu đòi về nước
Trẫm cởi dùm khanh áo chiến bào”. (1)

Nội dung chỉ nói đến việc chinh phạt chứ không đề cập gì đến giúp đỡ nhà Lê. Nếu không phải mục đích chinh phục nước An Nam để được ghi nhận công nghiệp vượt các triều trước thì khó mà tìm được lý do xác đáng để giải thích cho sự quyết tâm và hứng khởi của Minh Thế tông đối với cuộc nam chinh này.

Cừu Loan và Mao Bá Ôn tâu rằng nghe nói Phương Doanh đã chết, nếu An Nam không chịu phục tùng ngay thì hai kế hoạch đánh và chiêu phủ phải tiến hành. Cần điều quân Quảng Đông 36.000 người, Quảng Tây 75.000 người, quân Thổ tại các ty Tuyên ủy Vĩnh Thuận, Bảo Tĩnh thuộc Hồ Quảng, quân thủy tại Chương Châu, Tuyền Châu thuộc Phúc Kiến. Các chánh quan tại các ty, phủ, châu, huyện tại Lưỡng Quảng và Vân Nam được miễn về chầu tại triều, chuẩn bị tiến quân. Minh Thế tông đều chấp nhận.

Nhà Minh đã quyết tâm lớn để đánh An Nam, chứ không phải là hư trương thanh thế như nhiều bộ sử ở Việt Nam và Trung Quốc chép sau này, vì thiếu thông tin hoặc lý do nào khác. Dân chúng phía nam Trung Quốc cũng vì thế mà lao khổ. Sau khi bãi binh, tháng 5 năm 1541 Minh Thế tông đã ban chiếu mệnh rằng các xứ Lưỡng Quảng, Vân Nam và lân cận, nhân việc An Nam chinh điều chuyển vận, dân chúng lao khổ, các quan tuần phủ phải lưu ý chiếu cố...(15/05/1541)

Riêng đạo quân từ Lưỡng Quảng do Cừu Loan và Mao Bá Ôn trực tiếp chỉ huy quân số đã vượt xa con số 111,000 người. Đạo quân từ Vân Nam và Quý Châu không được Minh Thực lục cho biết quân số, nhưng thường được nhắc tới như một lực lượng quan trọng, được chỉ huy bởi những người có vai vế cao. Sách này ghi: "Binh Vân Nam tập hợp riêng, từ thác Liên Hoa chia làm ba cánh, do Kiềm quốc công Mộc Triều Phụ, An Viễn hầu Liễu Tuần, Đề đốc quân vụ thị lang Thái Kinh, Tuần phủ Đô ngự sử Uông Văn Thịnh xếp đặt", chứng tỏ cũng là đạo quân lớn. Phía nhà Minh còn được hỗ trợ từ các đạo quân xứ Lão Qua đánh từ mặt Tây Bắc, quân Vũ Văn Uyên từ mặt Bắc, quân Lê Ninh và Nguyễn Kim từ mặt nam, cùng các lực lượng lẻ tẻ khác ở dọc biên giới. 


Tình hình An Nam

Sử sách hầu như không còn ghi chép về sự chuẩn bị của nhà Mạc cho chiến tranh, mà chỉ có những ghi chép về xã hội trị bình dưới thời Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh. 

Không chỉ có sự thừa nhận trong Toàn Thư về một xã hội "đêm không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi", mà tận cuối đời Lê Trung hưng và đầu đời Nguyễn vẫn còn những nhà khảo cứu chép rằng "Bấy giờ được mùa, nhà no, người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình..." - Phan Huy Chú (2), hoặc: "Vả lại cái đức chính của đời Minh Đức, Chính nhà Mạc vẫn còn cố kết nhân tâm, chưa quên hết" - Phạm Đình Hổ nói về dư âm của nhà Mạc (3). 

Mặt khác, Mạc Đăng Dung xuất thân là một Võ cử, cuộc đời thành công với binh nghiệp, tất phải có ý thức và năng lực phát triển sức mạnh quân đội. Về ngoại giao, sau khi trình bày được với nhà Minh, nhà Mạc đã nhận tội chuyên quyền, xin tha tội, xin cống nạp đầy đủ, nhưng đã quyết định không dâng nạp bản đồ theo yêu cầu của nhà Minh, chứng tỏ họ đã đoán được ý đồ thực sự của đối phương là vẫn sẽ tiến công. Tính từ thời điểm lên ngôi thì nhà Mạc đã có hơn mười năm để củng cố đất nước và chuẩn bị đối phó.

Nhà Mạc đặc biệt chú trọng về thủy quân, chỗ dựa đã chứng tỏ rất hữu hiệu cho chế độ, kể cả về sau, khi đã ở vào giai đoạn suy yếu.

Giai đoạn này thủy quân nhà Minh lại suy kém, sau hàng chục năm thi hành chính sách cấm biển. Người Việt tận dụng được cơ hội này để trở thành một thị trường thay thế và trung chuyển, trong một giai đoạn giao thương hàng hải bắt đầu đột phá, năng lực hoạt động trên sông biển vì thế phát triển. Hoạt động doanh thương phát triển cũng khiến nhà nước bổ sung được nguồn thu khiến giảm nhẹ thuế khóa cho nông dân mà vẫn có ngân khoản cho việc binh bị. Một chi tiết về sau, chứng tỏ năng lực hạn chế của thủy quân nhà Minh là chỉ với lực lượng của viên tướng Phạm Tử Nghi, ly khai triều đình nhà Mạc, đã có thể "mang quân cướp phá hai châu Khâm, Liêm; bắt chỉ huy Tôn Chính, giết bách bộ Hứa Trấn; cả miền lãnh hải dao động(10/5/1549 ), đến mức sự việc trình lên hoàng đế nhà Minh khiến y phải yêu cầu nhà Mạc xử lý. Ưu thế về thủy quân rõ ràng nghiêng về phía nhà Mạc.

Khi nhà Minh sửa soạn đánh An Nam thì nhiều khu vực ở biên giới dao động, ngả theo phía họ. Minh Thực lục chép rằng các thổ quan và hào mục An Nam như Trần Tông, Hoàng Công Cán, cùng các thổ quan tại biên giới như thủ lĩnh Đào Tiên tại châu Thủy Vĩ và những người khác đều tình nguyện nội phụ. Vũ Văn Uyên chiến thắng quân nhà Mạc, chiếm được quan ải và doanh trại. Văn Uyên được nhà Minh ban y khăn, dây đai, chương phục quan tứ phẩm và tiền bạc. Tuy nhiên những lực lượng này chỉ có thể gây khó khăn cho nhà Mạc ở biên giới, khó có khả năng tiến sâu.

Khu vực Thanh Hóa khi nhà Mạc lên thì Nguyễn Kim và Lê Ý đã khởi binh chống lại, nhưng Nguyễn Kim thất bại phải chạy sang Ai Lao, còn Lê Ý đã bị bắt sau chưa đầy một năm bởi vì quân lương đều ít, chứng tỏ dân chúng ít theo lực lượng nổi dậy. Thế nhưng khi quân Minh sửa soạn đánh An Nam thì lực lượng Lê Trung hưng đã có được nhiều lợi thếToàn Thư ghi nhận năm 1537 viên trấn thủ bảy huyện cho nhà Mạc ở Thanh Hóa là Lê Phi Thừa đã cướp phá tam ty và dẫn quân sang Ai Lao theo Lê Ninh. Theo Toàn thư thì quá trình chiếm lại bắt đầu từ năm 1539. Tuy nhiên, đầu năm 1538 viên Tri châu Khâm Châu đã tâu lên Minh Thế tông về việc Mạc Đăng Dung vừa mới thua Lê Ninh và Vũ Văn Uyên. Nếu tin tức bên phía nhà Minh là chính xác thì có thể không phải Lê Phi Thừa chạy sang Ai Lao mà y mở cửa đón lực lượng Lê Ninh vào, giao tranh và thắng quân nhà Mạc ở Thanh Hóa. Năm 1541 Phi Thừa bị Nguyễn Kim sai người bóp cổ chết với lý do là bất bình, nói ra những câu phẫn uất, ngày càng kiêu hoạnh. Có thể y dám kiêu hoạnh vì đã có công khơi mào cuộc nội chiến giúp nhà Lê Trung hưng.

Dù đã chiếm được một số khu vực ở Thanh Hóa, nhưng phản ứng của dân chúng có thể sẽ bất lợi hơn cho phe Nguyễn Kim nếu họ công khai phối hợp với quân Minh. Lúc này nhà Mạc vẫn đang kiểm soát được vùng trung tâm Thanh Hóa.

Để chiêu dụ quan lại An Nam, quân Minh đã công bố "nếu ai mang quận huyện đến hàng sẽ được giao cho cai quản chính quận huyện đó". Điều này khiến họ lộ rõ ý đồ sẽ làm chủ An Nam, không trả thực quyền cho nhà Lê, do đó cũng cho thấy chiêu bài dựng lại nhà Lê có thể không được đánh giá cao về mặt tác dụng. Bối cảnh như vậy rất khó cho người Minh lôi kéo được dân chúng chống lại nhà Mạc. Dân An Nam đã nhờ có nhà Mạc mà được hưởng khoảng thời gian thái bình nên khó mà bị lung lạc. Họ lại đã có kinh nghiệm về sự lật lọng của nhà Minh với chiêu bài phù Trần diệt Hồ lần trước. 

Như vậy, xét về tương quan thì nhà Mạc không hẳn ở thế yếu nếu quân Minh tiến sâu vào lãnh thổ. 


Diễn biến ở biên giới và hậu sự kiện

Hàm Ninh hầu Cừu Loan đến Quảng Tây, đeo ấn kiếm triều đình ban cho, bèn ra lệnh cho Trấn thủ Vân Nam Đề đốc Liễu Tuần mặc quân phục, đến quỳ trình diện trước hàng quân. Tuần không tuân, đưa thư chỉ trích Loan, làm đơn khiếu nại đến triều đình. Bộ Binh không giải quyết được, phải trình lên. Minh Thế tông khiển trách Loan, ra lệnh trở về kinh đô. Lệnh Liễu Tuần cùng Mao Bá Ôn lo liệu việc An Nam. (20/10/1540)

Thời điểm tấn công đã bị đình lại có thể đến hàng chục ngày để nội vụ được triều đình nhà Minh giải quyết. 

H truyền hịch cho dân An Nam biết việc phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị tuyệt, chỉ đánh cha con Mạc Đăng Dung mà thôi. Nếu ai mang quận huyện đến hàng sẽ được giao cho cai quản chính quận huyện đó, giết hoặc bắt cha con Mạc Đăng Dung đem đến hàng sẽ được thưởng 20.000 [lạng?] vàng, quan cao, tên tuổi được ghi công hai ba lần. Dụ cha con Đăng Dung quả muốn trói tay chịu tội, nạp cống, tuân mệnh, sẽ được tha tội chết. 

Những diễn biến bên phía nhà Minh cho thấy ý đồ và quyết tâm thực hiện gấp rút. Thế thì lời dụ hàng chỉ là một biện pháp đi kèm để lung lạc ý chí chống cự của nhà Mạc, rõ ràng không có chỗ cho đàm phán. 

Minh Thực lục chép rằng "Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quan xin hàng. Bọn Bá Ôn đã được lệnh trước của triều đình nên cho hẹn ngày 3 tháng mười một năm Gia Tĩnh thứ 19 [30/11/1540] đến hàng." Ngoài ra còn dâng sổ hộ tịch, đất đai, quân số, trả lại bốn động mà phía Khâm Châu nói rằng bị chiếm, xin được ban lịch chính sóc và xin được giữ lại ấn cũ để đợi sự định đoạt. 
Tuy nhiên, trong nội dung xin hàng của Mạc Đăng Dung có nói rằng "chỉ xin được theo ý nguyện của dân Di, tùy nghi mà khu xử". Thực tế đó là một điều kiện. Lại dâng sổ hộ tịch, đất đai, quân số nhưng vẫn không thấy nói đến bản đồ. 
Minh Thế tông lệnh giáng nước An Nam làm ty Đô thống sứ An Nam, cho Mạc Đăng Dung làm quan Đô thống sứ An Nam, tòng nhị phẩm, con cháu thế tập, được cấp ấn bạc. Hủy bỏ hệ thống tự thiết lập trước kia, đặt ra ty Tuyên phủ cho 13 lộ như Hải Dương, Sơn Nam..., Mạc Đăng Dung được quyền thăng, giáng, chuyển đổi hoặc cho thế tập. Mỗi năm nhận lịch Đại thống để theo Chính sóc, vẫn theo lệ ba năm cống một lần. Hoàn lại bốn động đã chiếm cho Khâm Châu. Không cần phải phúc trình về số lượng tiền, ngũ cốc, binh giáp. Lệnh Thủ thần khám hỏi việc Lê Ninh, nếu là con cháu họ Lê thì cấp cho bốn quận đang chiếm giữ, nếu không thì bị truất.

Kết quả, nhìn vào những điều kiện nhà Mạc đạt được, là vẫn tiếp tục cai quản An Nam, theo ý nguyện của dân chúng An Nam mà tùy nghi khu xử, không cần phải báo cáo về số lượng tiền, ngũ cốc, binh giáp, thì đó là những điều khoản có thực chất, ngoài ý định ban đầu của Minh Thế tông. Y vốn đã không theo đề xuất của Dư Quang và Mộc Triều Phụ lẫn tờ biểu của nhà Mạc xin làm phiên thần.

Vậy bên phía nhà Minh đã có một quá trình thay đổi nhận thức.

Có thể chính là nhờ khoảng thời gian cuộc tiến công phải đình lại hàng chục ngày để triều đình nhà Minh ở Bắc Kinh xử lý vụ việc giữa Cừu Loan và Liễu Tuần ở Lĩnh Nam.
Các tướng nhà Minh có thêm cơ hội để phân tích kỹ hơn về tình hình An Nam. Hai bên có được những đánh giá sơ bộ trên khía cạnh tinh thần dân chúng. Dân Trung Quốc phải chịu đựng thêm sự vất vả, phản ứng sẽ càng tiêu cực. Dân An Nam, như để cập ở trên, khó mà bị lung lạc. Chiến dịch tuyên truyền và chiêu dụ của nhà Minh bước đầu dĩ nhiên không thu được tín hiệu khả quan.

Trước viễn cảnh cuộc tấn công không sẽ đạt được ý đồ do tình hình thực tế An Nam, do những trục trặc khiến giảm nhuệ khí ban đầu và phát sinh tốn kém, thì một kết quả khả quan hơn mà những kẻ chịu trách nhiệm về cuộc chiến có thể tính đến là tìm cách thỏa thuận với Mạc Đăng Dung một giải pháp hai bên chấp nhận được.  
Sự thay đổi của Mao Bá Ôn, từ phe chủ chiến đã xin bãi binh, xin chấp nhận nhà Mạc, bỏ nhà Lê, chứng tỏ điều đó. 

Tuy Minh Thực lục không chép diễn biến này, mà chép rằng Bá Ôn trú quân ở biên giới, Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quân xin hànglời lẽ rất khiêm tốn. Tuy nhiên, phải đến ngày 29/4/1541 sử thần nhà Minh mới chép gộp từ sự việc chuẩn bị tấn công đến lời tuyên bố thắng lợi cùng những ban thưởng của Minh Thế tông vào làm một văn bản.

Sự việc Minh Thế tông ở kinh đô giải quyết chuyện bất đồng xảy ra khi Cừu Loan đến Quảng Tây gọi Trấn thủ Vân Nam Liễu Tuần đến quỳ trình diện trước hàng quân, được ghi chép vào ngày 20/10/1540. Tức là quân đội đã sẵn sàng ở gần biên giới An Nam, muộn nhất là tháng 9 năm 1540. Nếu nói là Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quân xin hàng thì đến ngày 30/11/1540 mới thực hiện nghi thức đầu hàng là quá trễ. Nếu theo Minh Thực lục là bọn Bá Ôn đã được lệnh trước của triều đình nên mới cho cái hẹn này, tức là thời gian trễ như vậy có thể giải thích được là phải chờ chỉ thị của triều đình, thì việc Bá Ôn cùng các Thú thần sau sự kiện đó lại dâng sớ xin tha cho Đăng Dung, Minh Thế tông cho đình thần bàn bạc, rồi mới chấp nhận, hóa ra là việc thừa. Nếu bàn xong mà không chấp nhận thì chẳng lẽ lại đánh tiếp.

Vậy đây rõ ràng là quyết định tùy nghi của Mao Bá Ôn và các tướng nhà Minh nhằm tránh một cuộc chiến khó khăn. Tức là màn kịch đầu hàng được dựng lên trước, chứ không phải có lệnh trước của triều đình, sau mới lấy đó để xin tha. Dĩ nhiên Mạc Đăng Dung chấp nhận. Minh Thế tông vừa mất đi sự ủng hộ của viên tướng chủ chốt, vừa bị đình thần thuyết phụcđã chẳng còn cách nào khác là phải theo. Quá trình này kéo khá dài sau ngày 30/11/1540 nên phải đến 29/4/1541 thì sử quan nhà Minh mới có thể chốt lại, và tất nhiên sẽ phải đề cao họ, bôi nhọ đối phương.

Quả như lời của Đường Trụ là nếu bới việc ra thì có thể lâm vào tình thế đánh không xong mà không đánh cũng không xong. Phải mất đến 4 năm triều đình nhà Minh hảo tổn rất nhiều tâm lực thì mới có thể hạ đài. 

Như thường lệ, họ vẫn tuyên bố toàn thắng. Minh Thế tông phán rằng việc chinh phạt An Nam là do mình quyết đoán tuy rằng vẫn có những người sự hãi và tìm cách chê trách phản đối. Tuyên công trạng và thăng cấp hoặc thưởng tiền và lụa cho gần một trăm người.

Thực tế mục tiêu chiếm An Nam hoặc dựng lại nhà Lê đã thất bại.
Việc bắt nhà Mạc phải đầu hàng trên hình thức và chấp nhận nộp cống thì lại chả cần phải nhọc công và chia rẽ đến thế, vì từ năm 1537 nhà Mạc đã chấp nhận rồi. 
Một số điều khoản Mạc Đăng Dung phải nhượng bộ như bỏ xưng niên hiệu, nhận chức An Nam đô thống ty, mãi mãi xưng là phiên thần, dùng lịch nhà Minh, chỉ là kế tùy nghi, hình thức. Nhà Mạc vẫn xưng đế hiệu trong nước, chính sách không theo nhà Minh. Quan hệ giữa hai bên về thực chất vẫn là giữa hai quốc gia, dù họ muốn gọi là gì. Bốn động họ thu hồi được thì vốn không phải là lý do khởi binh mà chỉ được thêm vào khá muộn, điều này sẽ được phân tích chi tiết.

Ngôn ngữ ngoại giao của các vua Việt đối với vua Trung Quốc đều khá tương đồng. Đó là vẫn theo lối  giả vờ thần phục, lời lẽ nhún nhường, nhận mình là thần tử trong quan hệ thứ bậc. Tuy nhiên quyền tự quyết của quốc gia, ranh giới thực chất, thì được giữ bằng thực lực chứ không có gì là xin hay cho cả.
Nhà Minh muốn cụ thể kết quả bằng việc cho giảm bớt yến tiệc đãi sứ giả An Nam để chứng tỏ không phải tiếp sứ thần một quốc gia phiên thuộc (24/05/1543), tuy vậy khi họ định bỏ việc cử quan hộ tống sứ giả ra biên giới thì sứ thần An Nam viện dẫn lệ cũ, Minh Thế tông lại phải chấp nhận (23/06/1543), chứng tỏ ngay cả trên phương diện hình thức thì y cũng chỉ làm được nửa vời. Có thể y vốn đã tuyên bố với các cận thần quyết tâm xóa bỏ nước An Nam để nhập vào Trung Quốc, nên Mao Bá Ôn phải cố gắng giúp y giữ được chút sĩ diện hão, rằng đã đạt được mục đích. Dù tổ chức ăn mừng và phong thưởng nhưng hoàng đế nhà Minh vẫn không dấu được sự cay cú suốt nhiều năm sau đó khi nhất quyết không phục hồi cho Thị lang bộ Binh Phan Trân, người can gián việc đánh An Nam, mặc dù các đại thần khoa đạo vì tiếc phẩm chất của viên quan này nên đã hơn 10 lần dâng sớ đề xuất (08/08/1548).

Thói quen xuyên tạc để hạ thấp bên ngoài và tô vẽ cho quốc gia là khá phổ biến trong việc viết sử ở Trung Quốc. Sự kiện này hẳn đã được mô tả thiếu khách quan trong Minh Thực lục qua việc họ không chính thức thừa nhận ý đồ đối với An Nam, sử về sau lại càng chép sai lệch.

Nghiêm Tòng Giản viết trong bộ sách Thù vực châu tư lục (4). chương Nam man, về lời xin hàng của Mạc Đăng Dung, đã xuyên tạc nhiều chỗ.
Ví dụ cắt đi ý "xin được theo ý nguyện của dân Di, mà tùy nghi khu xử", trong khi đó là nội dung thực chất nhất, quyết định sự độc lập của An Nam, nhà Minh không thể đoạt được. Nội dung xin cống người vàng được Minh thực lục ghi là: "Nhưng thần và người trong nước muốn theo lệ triều trước, hiến người vàng người bạc thay thế, sợ bị tội đường đột nên tâu lên để được chỉ giáo" lại được Nghiêm Tòng Giản thêm là xin cống người vàng bạc hàng năm, trong khi đây chỉ là những biệt lệ. Thời Trần, khi người Mông Cổ mới làm chủ Trung Quốc đã nhất quyết đòi vua Trần phải đích thân sang chầu, nhưng sau đó họ phải chấp nhận hình thức nhà vua đưa sang một tượng người đúc bằng vàng thay thế cho mình. Các trường hợp khác là phía An Nam cống người vàng lần lượt thay thế cho Trần Cảo, Lê Lợi, Lê Nguyên Long trong giai đoạn cần phải xoa dịu nhà Minh sau thất bại của họ, để tránh họa chiến tranh liên tiếp cho đất nước. Ngoài kiểu tài liệu tùy tiện này thì không có cơ sở nào nói rằng có lệ cống người vàng bạc hàng năm cả. 

Cao Hùng Trưng, trong bộ sách An Nam chí nguyên, thì miêu tả rằng nhà Minh vốn không thực sự động binh mà chủ yếu dọa An Nam, rút cục đạt được mục đích, tuy nhiên nội dung trong Minh thực lục đã bác bỏ ý này. 
Nhóm Trương Đình Ngọc, thời nhà Thanh, khi viết bộ Minh sử đã chép thêm rằng Mạc Đăng Dung lập tức đến hàng và lạy tạ trước cửa quân của Mao Bá Ôn, tuy nhiên các đồ họa trong cuốn sách có tiêu đề rất ngạo mạn của người Minh là An Nam lai uy đồ sách, biên soạn sát với thời gian xảy ra sự kiện 1540, cũng chỉ thể hiện hành động vái chào của Mạc Đăng Dung mà thôi. 

Các sử gia người Việt thường dựa trên những nguồn dữ liệu thiếu tin cậy này do thiếu suy xét hoặc cố ý, chẳng hạn Lê Quý Đôn đã lấy nội dung trong Thù vực chu tư lục khi soạn bộ Đại Việt thông sử (5).
Điều đó cũng là sự tiếp tay cho người Trung Quốc để hạ nhục người Việt, đồng thời ngăn cản những nhận thức khách quan nơi người tìm hiểu lịch sử.

Một điều khoản mà nhà Mạc phải tạm chấp nhận, là để cho lực lượng Lê Ninh tạm đóng ở bốn quận chiếm được ở Thanh Hóa, chờ nhà Minh tra xét lý lịch của Lê Ninh thì mới phúc quyết. 
Giai đoạn này An Nam không sử dụng đơn vị hành chính quận, vậy đây thực tế là huyện hay phủ? Theo Toàn Thư thì từ đầu năm 1539 lực lượng của Lê Ninh đã thắng rất nhiều nơi nên khó có thể họ chỉ giữ có bốn huyện được, nên chỉ có thể là bốn phủ, gồm nhiều huyện và châu. 
Sự việc để Lê Ninh được giữ những nơi đã chiếm cũng được Toàn Thư thừa nhận qua việc nhắc lại nội dung bản tâu của Mao Bá Ôn về Lê Ninh: ''...Hiện tại các địa phương đã lấy được đều thuộc quản thúc, hoặc lượng cho làm chức sự gì trực thuộc về Vân Nam. Nếu không phải con cháu họ Lê thì bỏ đấy không bàn đến nữa...'' (6). Nhà Minh sau đó chẳng tra xét gì thêm mà cũng chẳng can thiệp vào cuộc chiến giữa hai bên. Vì thế đó có thể coi là một thỏa thuận để nhà Minh giữ được chút sĩ diện là đã có bênh vực nhà Lê, nhà Mạc tạm chấp nhận để họ bãi chiến. Sau cái chết của Mạc Đăng Dung vào tháng 8 năm 1541 thì người đứng đầu là Mạc Phúc Hải, còn ít tuổi, nhà Mạc đã thiếu đi một thủ lĩnh quyết đoán để sớm đối phó với lực lượng Lê Trung hưng, đó hẳn cũng là một lý do để lực lượng này đứng chân được, kéo theo là một cuộc nội chiến kéo dài hơn nửa thế kỷ nữa.

Với thế cục mới ở An Nam, nhà Minh đã thu được lợi ích nhờ người An Nam tập trung vào những tranh đấu nội bộ, khiến hạn chế sức ảnh hưởng đến những vùng kimi dọc theo biên giới mà hai bên luôn nỗ lực để lôi kéo, tranh chấp. Trước đó, họ đã lôi kéo được nhiều thủ lĩnh ở biên giới, như Minh thực lục đề cập ở trên. Ngoài bốn động nhà Mạc phải chịu mất thì những khu vực khác nhà Mạc vẫn đấu tranh để lấy lại. Người phụ trách bang giao nhiều năm bên phía nhà Mạc là Thượng thư Giáp Hải thường ra biên giới để làm việc. Minh Thực lục cho biết thêm một số chi tiết. Dưới thời Minh Mục tông phía họ truy tặng chức Thượng thư bộ Công cho viên Tả thị lang bộ Binh Tượng Hiền vì có công đối phó với An Nam ở biên cảnh: "Lúc bấy giờ An Nam dấy binh, các vùng Lưỡng Quảng, phía nam Vân Nam tao động.'' (27/02/1568). "Năm Vạn Lịch thứ 8 [1580] có cuộc tranh chấp biên giới giữa An Nam và các hạt Lội Động, Quy Thuận thuộc tỉnh Quảng Tây, triều đình sai cắt trả lại sáu giáp, 12 thôn [có chỗ quy ra là hơn 120 thôn (12/10/1586)]. Đến nay sứ đến lại đem việc mất đất ra nói'' (22/07/1585). Minh Thần tông từng phải theo đề nghị của Tổng đốc Lưỡng Quảng Quách Ứng xin "hội các quan để khám xử An Nam và các động thuộc xứ Hạ Lôi, Quy Thuận tại biên giới. Hoặc trả lại cho An Nam, hoặc xây mốc đá định biên giới để chấm dứt tranh dành giữa hai bên'' (22/02/1584). Năm 1586 họ lại trả thêm hai thôn là Ngâm Bang và Long Phố. Những kết quả đó, hoàng đế nhà Minh cũng phải thừa nhận là do sự đấu tranh kiên trì của nhà Mạc, mà y gọi là quá đáng(12/10/1586). Một số khu vực vẫn không thể đòi lại được vì nhà Minh lấy lý do đến nay qua các đời nhân tâm đã định, một phần bởi thực tế là nhà Mạc không có điều kiện để tạo nhiều áp lực khi bị kìm chân bởi nội chiến. Quả như lời Đường Trụ với vua Minh trên tinh thần lợi ích quốc gia của họ rằng loạn ở An Nam là phúc cho Trung Quốc.


Vấn đề bốn động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát. 

Đây vốn không nằm trong tính toán ban đầu của triều đình nhà Minh, mà chỉ khi viên tri châu Khâm Châu là Lâm Hy Nguyên dâng biểu đề nghị đòi thì họ mới thêm vào yêu sách với nhà Mạc. Khi kết thúc và ban thưởng thậm chí y còn không được nhớ tới. Chỉ vào năm sau, khi cho đặt cơ sở để quản lý ở đây thì bộ Binh mới tâu rằng: "Người đầu tiên xin lấy lại bốn động này là Thiêm sự Lâm Hy Nguyên, nay đã bãi chức nhưng công không nên quên". Hy Nguyên mới được thưởng tiền và lụa (16/12/1542). 

Trong khi Minh thực lục chép là nhà Mạc trả lại bốn động trên, phía nhà Minh coi là vốn thuộc các đô Như Tích, Thiếp Lãng của Khâm Châu, thì các tài liệu ở Việt Nam lại chép không thống nhất.
Toàn Thư ghi là nhà Mạc nộp sáu động thuộc châu Vĩnh An trấn Yên Quảng. Tuy nhiên Toàn Thư cũng liền sau dẫn lời tâu của Mao Bá Ôn là Mạc Đăng Dung trả lại bốn động đã xâm chiếm. Lại chép thời điểm tâu trình của Bá Ôn là ngày 20 tháng 10 năm Tân Sửu [1541], sai lệch rất xa. Chứng tỏ tư liệu Toàn Thư về sự kiện này không đáng tin cậy. 
Đại Việt thông sử thì chép Mạc Đăng Dung xin trả 2 đô Như Tích, Chiêm Lãng, và 4 động Tư Phiêu, La Phù, Cổ Lâm, Liễu Cát. 
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục cũng chép theo Toàn thư, sau đó đưa ra chi tiết là một trong các địa danh mà Toàn Thư nêu ra thì vẫn còn ở châu Vạn Ninh nước ta, tỏ ý nghi ngờ rằng sử cũ có thể chép sai sự thực. (7)
Hoàng Việt Dư địa chí của Phan Huy Chú, được biên soạn vào đầu thời Nguyễn, thì cho rằng số đất bị mất là hai châu Thạch Tích và Niêm Lãng cùng với bốn động. (8)
Phương Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu, được biên soạn vào thời Nguyễn, phần viết về tỉnh Quảng Yên (thời Lê và Mạc gọi là An Bang thừa tuyên, thời nay là khu vực tỉnh Quảng Ninh) giáp giới với Khâm Châu của Trung Quốc, đã dẫn nhiều nguồn khác nhau, mà tác giả gọi là cứ chép lại những điều được nghe, để đợi tham khảo, tuy nhiên khi đề cập đến sự việc của nhà Mạc ông đã đưa ra những khẳng định. Theo đó, có bốn động vốn sát nhập vào nước ta từ thời Tuyên Đức, nhà Mạc giả lại nhà Minh là giả lại đất đã lấn, không phải cắt đất để đút lót vậy (9).
Theo Thiên Nam dư hạ của triều Lê Thánh tông, do Nguyễn Văn Siêu dẫn lại cũng trong phần này, thì  An Bang thừa tuyên dưới thời Lê Thánh tông  có 1 phủ (Đông Hải), 3 huyện (Hoành Bồ, An Hưng, Chi Phong), 4 châu (Tân An, Vạn Ninh, Vân Đồn, Vĩnh An). Theo đó nước ta không có hai châu Thạch Tích và Niêm Lãng (như Phan Huy Chú viết). Lại không có hai đô (như Lê Quý Đôn viết), vì đơn vị được gọi là đô chỉ có bên phía Trung Quốc, bao gồm một số động liên kết (10), chứng tỏ người ta đã gọi các vùng đất trên theo tên do người Trung Quốc đặt từ trước. Có thể đương thời người Việt vẫn gọi theo tên cũ chứ chưa thay đổi, cho nhập vào châu Vạn Ninh. Đó là những vùng đất mà chính quyền trung ương vẫn còn quản lý lỏng lẻo, có tính chất kimi. 

Tài liệu của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã mơ hồ và thiếu chính xác, nhưng họ vẫn không theo Toàn Thư. Vậy không có cứ liệu chắc chắn để bác bỏ chi tiết do Minh thực lục đưa ra, là họ lấy lại bốn động thuộc về hai đô. 

Trường hợp này phần lớn các bộ sử ở Việt Nam đều viết thiếu thuyết phục. 

Theo tài liệu của PGS Đinh Khắc Thuân dẫn từ sách Khâm Châu chí thì khu vực tiếp giáp phía đông bắc vốn có ba đô là Như Tích, Thời La và Chiêm Lãng với 7 động (11). Có bốn động thuộc đô Như Tích (Tư Lẫm, La Phù, Liễu Cát, Kim Lặc), hai động thuộc đô Chiêm Lãng (Cổ Sâm, Chiêm Lãng), một động cũng chính là đô Thời La. Như vậy quả thật bốn động Ti (Tư) Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát từng thuộc về hai đô Như Tích và Chiêm Lãng của Trung Quốc. Thời Nguyên Thế tổ động trưởng động Tư Lẫm là Hoàng Thế Hoa được ban ấn tín cai quản cả bảy động này. Khâm Châu chí còn cho biết năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) bốn động chủ theo về An Nam với 29 thôn với 292 hộ, họ được nhà Lê phong chức tước. Sau đó, nhà Minh nhiều lần cho gọi các động trưởng này theo về nhưng không thành nên quan chức nhà Minh phải bỏ về. Những ghi chép trên có thể đã phản ánh đúng cách ứng xử của các bên. Theo đó các thủ lĩnh bản địa trên thực tế vẫn nắm quyền cai quản, họ lựa chọn theo bên nào do tính toán lợi hại dựa trên mỗi giai đoạn, họ thường được hai bên chiêu dụ thay vì áp dụng biện pháp vũ lực chỉ có tính hiệu quả nhất thời. Tóm lại đây là vùng tranh chấp ảnh hưởng, như nhiều vùng đất khác của các dân tộc thiểu số dọc theo biên giới. Trước một hoàn cảnh mà ưu thế ở biên giới nghiêng hẳn về phía nhà Minh thì nhà Mạc khó mà giữ được. Minh thực lục đã chép về thời điểm căng thẳng là "Lúc đó, các thổ quan và hào mục An Nam như Trần Tông, Hoàng Công Cán, cùng các thổ quan tại biên giới như thủ lĩnh Đào Tiên tại châu Thủy Vĩ và những người khác đều tình nguyện nội phụ". Về sau nhà Mạc đã đòi lại được nhiều thôn sau những đấu tranh kiên trì, như Minh thực lục từng ghi rõ, có những nơi không đòi được.

Vấn đề biên giới với Trung Quốc thì không chỉ nhà Mạc mà bất cứ triều đại Việt Nam nào đều gặp phải. Chẳng hạn Phương Đình dư địa chí chép một chuyện tranh chấp thời Lê trung hưng với nhà Thanh như sau: "trước kia thổ mục châu Lộc Bình là Vy Đức Thắng xâm chiếm 8 thôn thuộc châu Tư Lăng. Thổ quan nhà Thanh là Vy Vinh Riệu tố cáo với quan tổng đốc Lưỡng Quảng là Ngô Hưng Tộ, đưa thư hội khám, nhà Lê sai lũ Vũ Duy Khương đi lại tranh biện mấy năm không quyết, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Trị (năm thứ 38 niên hiệu Khang Hy đời Thanh), sai Đoàn Tuấn Khoa hội đồng với ủy viên nhà Thanh khám lại. Vinh Riệu cãi không nổi, mới đem thôn Na Oa giả lại ta. Đến năm thứ 4 niên hiệu Bảo Thái (năm thứ 4 niên hiệu Ung Chính nhà Thanh), quan tổng đốc Lưỡng Quảng họ Khổng, sức cho quan Tư Lăng là Vy Thế Hoa lấy 400 lạng bạc giao cho thổ quan Lộc Bình là Vy Phúc Liêm chuộc lại đất thôn Na Oa, lại thuộc về châu Tư Lăng" (12). Số bạc trên tất nhiên chỉ là bề nổi cho những tính toán thiệt hơn dẫn đến quyết định trả đất cho họ, mà trong đó những người họ Vy ở bản địa thuộc về hai phía có vai trò khá lớn. Để phán xét về chuyện được mất cần phải dựa vào hoàn cảnh. Chỉ điều bất biến của lịch sử là những tham vọng lãnh thổ dễ kéo theo tranh chấp và chiếm đoạt.
 
Nếu Mạc Đăng Dung phải hàng một cách đúng nghĩa thì nhà Minh không thể chỉ dừng lại ở việc lấy bốn động, trong bối cảnh nhiều nơi khác ở dọc biên giới đã xin theo họ. 
Mặt khác, nếu cuộc chiến xảy ra, việc binh đao không biết bao giờ dứt, gây vô số tai họa cho dân chúng, đất đai ở biên giới vẫn có thể mất, mặc dù nhà Minh cũng phải chịu nhiều mặt thiệt hại. Đây cũng là một cơ sở để cho rằng hai bên đã có những cuộc đàm phán trước khi đi đến một nghi lễ đầu hàng có tính hình thức, khiến hoàng đế nhà Minh có thể hạ đài. Lựa chọn này có thể cho là gây ít thiệt hại nhất cho người Việt.

Ứng xử của Mạc Đăng Dung đương thời không bị chỉ trích, kể cả phe đối lập cũng không có dấu hiệu đã chỉ trích hay khai thác gì được.

Năm 1551, Lê Bá Ly vốn là bạn của Mạc Đăng Dung và làm đến chức Thái tể dưới triều Mạc Phúc Nguyên dẫn quân bỏ sang phía phía đối lập do vua nghe theo lời vu hãm của sủng thần, đã giúp lực lượng Lê Trung hưng quyết tâm đánh bại nhà Mạc. Họ tấn công thẳng vào Thăng Long, phát lời kêu gọi mọi người hưởng ứng. Trong bản văn nôm của Lê Bá Ly, còn được lưu truyền đến ngày nay, đã chỉ trích nhà Mạc nhiều mặt kể cả gọi việc lên ngôi mà ông đã từng dốc sức khuông phò là "thác thiên nhường mà lấy thiên hạ, sự chẳng bình tai mặt khôn che(13), tuy nhiên đã không hề có một chữ nhắc đến sự kiện giữa Mạc Đăng Dung và nhà Minh, chứng tỏ không thể khai thác được gì về sự kiện này. Rút cục họ phải nhanh chóng rút về phía nam vì không thể lôi kéo được dân chúng chống lại nhà Mạc.
 
Trong xã hội đương thời đã lưu truyền một câu chuyện gửi thư đối đáp giữa thời điểm hai bên đã chuẩn bị ở biên giới.

Mao Bá Ôn gửi sang bài thơ Vịnh bèo, tỏ ý coi thường và đe dọa, mục đích nắn gân:

"Dọc theo ruộng nước bám như châm
Rể bám vào đâu cũng chẳng thêm
Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ
Dám chi sạch tiết, dám chi tâm
Tụ rồi đã chắc chi khi tán
Nổi đó nào hay đến lúc chìm
Gặp trận trời cho cơn gió lốc
Quét tan hồ bể khó mà tìm"

Bên phía nhà Mạc đã cho trạng nguyên Giáp Hải họa lại như sau:

"Chen nhau vảy gấm khó luồn kim
Cành rễ liền nhau chẳng kể thân
Tranh với bóng mây trên mặt nước
Hé dung ánh nhật lọt dòng tâm
Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ
Muôn trận phong ba cũng chẳng chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lữ Vọng khó mà tìm." (14)

Nội dung lời đáp trả đã vừa tránh khiêu khích đối phương nhưng thể hiện được khí phách không hề khiếp nhược.
Câu chuyện này là một minh chứng cho thái độ ứng xử của triều đình nhà Mạc. Chính thái độ đó, mới khiến cho người Minh phải chấp nhận một màn thần phục giả vờ, mà họ cố mô tả thành một thắng lợi. Chỉ có thái độ không khiếp sợ mới thực sự chặn được cuộc chiến.

Sau sự kiện biên giới, Mạc Đăng Dung lại về Cổ Trai. Ông qua đời 9 tháng sau đó, vào tháng 8 năm 1541, thọ 58 tuổi. Người cháu nội trẻ tuổi là vua Mạc Phúc Hải cũng qua đời vào năm 1546, liên tiếp sau đó là hai đời vua mà phần lớn thời gian trị vì đều ở tuổi chưa trưởng thành, đất nước lại chịu cảnh chiến tranh liên tiếp, chế độ dần dần suy kém, đến năm 1592 thì mất về tay lực lượng Lê Trung hưng. Sở dĩ triều Mạc kéo dài thêm được khá nhiều năm là nhờ công đức lớn của hai vị vua đầu tiên là Thái Tổ Mạc Đăng Dung và Thái Tông Mạc Đăng Doanh đối với xã tắc. 

Trong cuộc đời, Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã có hai cống hiến lớn cho dân tộc, đó là đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện cuối thời Lê sơ để bước vào một giai đoạn thái bình hiếm có trong lịch sử, và hóa giải được một cuộc xâm lăng bằng những biện pháp ứng xử khôn khéo. 
Đặt trong hệ giá trị phổ quát, coi cuộc sống của người dân là trên hết, thì Mạc Thái Tổ xứng đáng được dân tộc tôn vinh với những gì ông đã cống hiến.

Nhận thức đúng đắn và biết trân trọng những giá trị chân chính là bước khởi đầu cho một xã hội tốt đẹp.


Nguồn tham khảo, trích dẫn, chú thích: 

1. https://giacngo.vn/vanhocnghethuat/2008/05/27/56541B/?webmode=pc

2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb Sử học, H. 1960, tập 1, tr. 180.

3. Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, bản dịch Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Văn học, xb2017, tr181
4.  Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, xb2013. tr 36 đến 39                                                                                                    5. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, bản của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lê Mạnh Liêu dịch. 6. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr835
7. Quốc Sừ quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, sđd, tr116
8.  Phan Huy Chú, Hoàng Việt Dư địa chí  (Tổng tập dư địa chí Việt Nam, tập1Nxb Thanh Niên, 2012, tr975)
9. Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình Dư địa chí (in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam, tập1Nxb Thanh Niên, 2012, tr1214)
10. Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, sđd, tr32
11. Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, sđd, tr57,58
12. Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình Dư địa chí, sđd, tr1237,1238
13. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, sđd 
14. Bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Thủ, nguồn thivien.net










 

 

 

 




Thursday, November 28, 2019

Nguyễn Trãi có tên trong biển ngạch công thần?

Nguyễn Trãi có tên trong biển ngạch công thần?

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép sự kiện ban biển ngạch công thần vào năm Kỷ Dậu (1429) như sau: "Tháng 5, ngày mồng 3, ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo. Á thượng hầu 1 người là Lê Ngân. Hương thượng hầu 3 người là Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng, Đình thượng hầu 14 người là Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Thố, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật. Huyện hầu 14 người là: Lê Bị, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thụ, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bồi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật. Á hầu 26 người là bọn Lê Lạn, Lê Trãi. Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Thiệt, Lê Chương. Quan phục hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tự Trước phục hầu 4 người là bọn Lê Khắc Phục, Lê Hài." (Toàn Thư, Kỷ Lê Hoàng Triều, Thái Tổ Cao Hoàng Đế, tờ 67a).

Có nhận thức rằng Nguyễn Trãi chính là người trong nhóm Á hầu được liệt kê ở trên, dtrước đó ông đã được ban quốc tính nên được gọi là Lê Trãi.
Lại có nhận thức phổ biến rằng Nguyễn Trãi nằm trong nhóm Quan phục hầu, vì căn cứ vào một đoạn chép trước trên Toàn Thư mà người ta cho rằng ông đã được phong tước này từ trước.

Tuy vậy các thứ bậc khá thấp này có vẻ mâu thuẫn với vai trò quan trọng của Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến. Liệu có gì bất thường ở đây? Ngoài ra, trước đây có người đã từng lưu ý về sự khác nhau của chữ  豸 (Trãi, của người được ban Á hầu) và chữ 廌 (Trãi, của Nguyễn Trãi).

Từ đó có thể dẫn đến một số câu hỏi như sau:

- Nguyên nhân nào khiến Nguyễn Trãi, vốn là một trợ thủ đắc lực của Lê Lợi, lại không có vị trí nổi bật trong biển ngạch công thần?
- Có thể Lê Trãi, người nhận tước Á hầu, là một người khác với Nguyễn Trãi. Có thể Nguyễn Trãi cũng không ở trong nhóm Quan phục hầu. Vì một lý do nào đó, Nguyễn Trãi đã không có tên trong số 93 công thần ở trên?

Xin được phân tích.

Việc gắn Nguyễn Trãi với tước Quan phục hầu được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép một sự kiện ban thưởng vào tháng 3 năm Mậu Thân (1428), trước đợt ban biển ngạch công thần hơn một năm:

"Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc.
Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái Bảo; đều được ban quốc tính." (Toàn Thư, Kỷ Lê Hoàng Triều, Thái Tổ Cao Hoàng Đế, tờ 57b) 
Chữ được coi là "Quan phục hầu" ở trên vốn là 冠   . Chữ 冠 vốn có thể là quan hoặc quán, còn chữ 侯 thì có thể là hậu hay hầu. Như vậy 冠 服 候 là quan (quán) phục hầu (hậu) chứ không thể chắc chắn là quan phục hầu. Lại cần lưu ý Toàn thư chép là 以 承 旨 阮 廌 爲 冠 服 候 (dĩ thừa chỉ Nguyễn Trãi vi quan (quán) phục hậu (hầu), tức là lấy Nguyễn Trãi làm chức (hoặc nhiệm vụ) quan (quán) phục hậu (hầu), chứ không phải ban tặng cho ông tước Quan phục hầu. Việc ban tước thì dùng chữ ban hoặc phongtặng chứ không dùng chữ dĩ (lấy để làm việc hay chức gì đó). Bối cảnh này là cùng lấy Trần Nguyên Hãn làm chức Tả tướng quốc và Phạm Văn Xảo làm chức Thái bảo.
Đợt ban thưởng vào tháng 3 năm 1428 là ban chức chứ không phải phong tước.
Có thể đó là một chức do Lê Lợi đặt ra đặc biệt dành cho Nguyễn Trãi nhằm có thể thay mặt mình quán xuyến công việc. Đối chiếu với những việc Nguyễn Trãi từng được giao như Nhập nội hành khiển, kiêm hành khu mật viện sự, thay mặt Lê Lợi viết thư thảo hịch, đàm phán... và với việc để tên ông trước cả Tả tướng quốc và Thái bảothì phỏng đoán này không phải thiếu cơ sở. Một chi tiết nữa có thể củng cố cho giả thuyết này là sử chép việc Lê Lợi cuối đời nhiều bệnh nên đã từng giao cho con trai là Tư Tề thay mình quyết định việc chính sự. Giai đoạn đó Nguyễn Trãi đã thất sủng.
Do đó cũng không thể lấy việc ban tước đồng loạt năm 1429 có 16 người có tước Quan phục hầu để cho rằng Nguyễn Trãi cũng thuộc vào số đó.
Về tước Á hầu trong biển ngạch công thần ở trên, thì việc chép tên Trãi là chứ không là 廌 như cách chép thống nhất tên Nguyễn Trãi ở những chỗ khác ở trên dẫn đến việc cần phải xem xét là có thể đây là một người khác hay không.

Đầu năm 1429, tức là vài tháng trước đợt ban biển ngạch công thần, xảy ra sự kiện Trần Nguyên Hãn bị nhà vua bắt tội nên đã tự sát, việc này Toàn Thư bỏ qua không chép thời điểm đó, nhưng sách Đại Việt Thông Sử Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều chép. Toàn Thư ở phần Thái Tông Bản Kỷ thì chép:
"Trước kia, Thái Tổ khi về già có nhiều bệnh, lại thêm Quân Vương [Tư Tề] ngông cuồng, bậy bạ, vua thì còn trẻ thơ, mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công lao giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần và Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này họ có chí khác, nên bên ngoài thì đối xử theo lễ tiết hậu, nhưng trong lòng lại rất ngờ vực hai người.
Bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua, dâng sớ mật, khuyên Thái Tổ quyết ý giết đi. Nếu có ai không vui, bọn Quốc Khí liền chỉ vào họ mà bảo họ là bè đảng của hai nhà ấy, nên rất nhiều người bị xử tử và đi đày. Các quan đều sợ miệng bọn chúng không dám nói gì." - tờ 5b.
Đây rõ ràng là những vụ án lớn, rất nhiều người bị liên lụy. Nguyễn Trãi là người thân cận với Trần Nguyên Hãn tất khó mà yên ổn được.
Một chứng cứ nói về việc ông bị bắt tội, là bài thơ Oan thán, như sau:
Phù tục thăng trầm ngũ thập niên,             
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.           
Hư danh, thật họa thù kham tiếu,               
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.           
Số hữu nan đào tri thị mệnh.                     
Văn như vị táng dã quan thiên.                  
Ngục trung độc bối không tao nhục,   
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên        

Dịch nghĩa (bản dịch trên trang thivien.net):

Nổi chìm trong cảnh phù tục đã năm mươi năm
Đành phụ với khe đá núi cũ
Danh hư mà họa thực, thật đáng buồn cười
Chúng nhạo kẻ trung thành đơn độc thật đáng thương hại
Khó chạy khỏi số trời, biết là có mạng
Nền văn cũng chưa mai một nhờ trời
Trong ngục xem lưng tờ giấy, thật là nhục nhã
Làm sao đạt được tờ giấy (khiếu oan) đến cửa khuyết vàng (cung vua)?           
Chi tiết "ngũ thập niên" cho biết ông làm bài thơ này lúc 50 tuổi, tức là vào năm 1429. Vì Nguyễn Trãi sinh năm 1380, theo cách tính của người xưa thì đến năm 1429 thì Nguyễn Trãi được tính là 50 tuổi. Vụ án Trần Nguyên Hãn xảy ra trước đợt ban biển ngạch công thần ba tháng, đó là lý do tên của vị công thần này không có trong phong thần bảng. Nguyễn Trãi đã bị bắt giam, đến việc muốn chuyển ý kiến lên nhà vua còn không được, thì làm sao có thể được ban tước.
Vậy người có tên Lê Trãi trong danh sách đó là ai?
Cái tên Lê Trãi, với chữ Trãi 豸đúng như tên người nhận tước Á hầu đã lại xuất hiện ở một chỗ khác. Đó là ghi chép trên Toàn Thư, phần Thái Tông Văn Hoàng Đế, chép sự kiện ngày 13 tháng giêng năm 1434 (tức là chỉ sau sự kiện ban biển ngạch gần bốn năm): Thập tam nhật, trừ nội ngoại đại tiểu quan viên Lê Trãi (黎 ) đẳng nhất bách ngũ thập lục nhân. (Ngày 13, bổ các quan viên lớn nhỏ trong ngoài là bọn Lê Trãi 156 người). Mà lúc này trong các ghi chép trên Toàn Thư thì Nguyễn Trãi đã mang họ Nguyễn chứ không còn mang quốc tính là Lê nữa. Trong thời gian tiếp theo dưới triều Lê Thái Tổ thì cái tên Nguyễn Trãi không hề xuất hiện trong Toàn Thư, có lẽ ông được tha nhưng đã thất sủng, cho đến lúc làm văn bia Vĩnh Lăng năm 1433 sau cái chết của nhà vua thì mới lại xuất hiện tên ông, đề trên lạc khoản là Nguyễn Trãi, và tiếp tục được dùng sau đó. Vậy thì Lê Trãi (黎 豸) là một nhân vật khác chứ không phải là Nguyễn Trãi (阮 廌).

Đến đây đã có thể bác bỏ cả hai tước là Quan phục hầu và Á hầu, thường gán một cách nhầm lẫn cho Nguyễn Trãi. Có thể nói rằng Nguyễn Trãi không thuộc vào 93 người có tên trên biển ngạch công thần.



Sunday, September 29, 2019

Về sự khởi đầu của Đàng Trong, những khuất khúc và kiến giải.



Năm 1558 Nguyễn Hoàng được cử đi trấn xứ Thuận Hóa.

Về sự kiện này, người ta thường nói tới vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hoàng, Ngọc Bảo, trong khi vai trò chủ thể của Trịnh Kiểm lại khá bị động. Đó là sự hời hợt trong nhận thức.
Thời điểm đó Trịnh Kiểm đang chuẩn bị ra đánh lâu dài ở phía Bắc, xảy ra từ 1559 đến 1561, Nguyễn Hoàng lại dẫn theo những bộ khúc đi về phía Nam (1), có thể cho chúng ta nhận định đó là giải pháp đẩy Nguyễn Hoàng và lực lượng thân cận ra khỏi vùng đất căn bản để tránh khả năng gây biến. Mặt khác, nhà Mạc khá mạnh về thủy quân, có khả năng tấn công Thuận Hóa bằng đường thủy, nên cũng có thể Trịnh Kiểm muốn mượn tay đối phương để trừ bỏ Nguyễn Hoàng.
Đối chiếu khu vực Thuận Hóa trên bản đồ và về quá trình hiện diện đã nhiều thế kỷ của người Việt thì ở giai đoạn này việc đi Thuận Hóa không còn mang tính chất đi mở mang khai phá gì nữa cả, mà đơn giản chỉ là trấn nhậm. Quảng Nam, trấn cực nam ở thời điểm đó, mới là địa bàn có khả năng mở rộng. Trấn thủ Quảng Nam là viên tướng kỳ cựu Bùi Tá Hán, người được giao nhiệm vụ cùng bàn bạc và phối hợp với Nguyễn Hoàng trong những việc lớn. Đó thực ra cũng là một cách để Trịnh Kiểm có thể giám sát và kiềm chế Nguyễn Hoàng. Năm 1568 Bùi Tá Hán đột nhiên mất tích, chỉ để lại một tấm áo bào đẫm máu. 

Năm 1570 Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm giao kiêm quản trấn Quảng Nam, đây mới là điều kiện để thực hiện việc nam tiến (2). Cột mốc 1570, chứ không phải 1558, mới phù hợp hơn để gắn vào công cuộc mở cõi của các chúa Nguyễn.
Khó mà lý giải cho quyết định này nếu không có việc Trịnh Kiểm ngầm sai ba anh em Mỹ Lương, Văn Lan, Nghĩa Sơn, thế lực được họ Trịnh sủng ái tại Thuận Hóa, đánh úp Nguyễn Hoàng (3). Nghĩa là bề ngoài giả bộ tin tưởng và ưu ái, nhưng lại có phương án trừ bỏ. Cách làm này không phải là hiếm, trường hợp Trịnh Tùng xử lý viên tướng Lê Cập Đệ vào năm 1572 là một ví dụ (4).
Theo bức thư Trịnh Tùng gửi trách cứ Nguyễn Hoàng năm 1600: "Nhiều lần gửi thư giục cậu đốc thu tiền thuế, vận tải lương thực để giúp việc chi dùng của nước, cậu thường lấy cớ đường biển gian hiểm mà từ. Đến khi kinh thành đã lấy lại, thiên hạ đã yên, cậu mới ung dung theo đạo nghĩa... " (5), thì rõ ràng Nguyễn Hoàng đã có biểu hiện bất tuân lệnh. Trước đó, năm 1586 Trịnh Tùng đã cử Hiến sát sứ Nguyễn Tạo vào đo khám ruộng để thu thuế, Nguyễn Hoàng đã mua chuộc và thu phục Nguyễn Tạo khiến việc kê khai chỉ diễn ra đại khái, muốn kê sao cũng được, rồi lại rút bớt đi phân nửa.
Như vậy, cục diện phân chia thực tế đã hình thành với việc Nguyễn Hoàng được trấn thủ toàn bộ phần lãnh thổ phía nam dãy Hoành Sơn, cái chết của Trịnh Kiểm năm 1570, và sự phá sản kế hoạch của Trịnh Kiểm.
Điều này có vẻ mâu thuẫn với sự an toàn của Nguyễn Hoàng khi ra Bắc năm 1593, mà theo lý lẽ thì có thể đủ khép tội. Ít nhất thì Trịnh Tùng cũng có thể lấy việc thuyên chuyển để cử người thân tín vào cai quản Thuận Quảng, coi như cắt hẳn hậu phương của người cậu khó đối phó. Chỉ nhìn tập trung vào Nguyễn Hoàng thì đây là điều không thể giải thích, nếu người ta không chú ý tới vai trò của Nguyễn Phúc Nguyên.
Nguyễn Phúc Nguyên sinh năm 1563. Năm 1585 đã chứng tỏ khả năng khi cầm quân đánh tan một đội thuyền ngoại quốc, được đặc biệt khen ngợi. Năm 1593 khi Nguyễn Hoàng cùng bốn người con ra bắc thì Nguyễn Phúc Nguyên chính là người nắm giữ căn cứ. Điều này nên được nhìn nhận là điểm mấu chốt cho sự an toàn của Nguyễn Hoàng, người đã cùng bốn con trai phần nào đó đóng vai trò con tin. Thời gian này Trịnh Tùng vẫn phải tập trung đánh dẹp ở phía bắc nên hai bên đều có lý do để kéo dài sự hòa hoãn.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng cho biết là đến tháng 5 năm 1593 Nguyễn Hoàng ra bắc mới đem sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa Quảng Nam dâng nộp (6). Như vậy là trước đó thì giữ làm của riêng. Sự thất bại của nhà Mạc đã khiến lực lượng Nguyễn Hoàng có nguy cơ sẽ là đối tượng tiếp theo của họ Trịnh, đó mới có thể là lý do cho việc phải ra bắc và thay đổi cách hành xử. 
Nếu chỉ căn cứ trên sử sách chính thống thì vẫn khó lý giải là việc Nguyễn Hoàng dám thoái thác hỗ trợ nhà Lê trong giai đoạn chiến tranh với nhà Mạc. 
Tuy nhiên, có những chứng cứ để cho rằng các nhà chép sử thời Nguyễn đã chép sai nhiều sự thật. Có những chứng cứ về một sự liên kết giữa Nguyễn Hoàng và phía nhà Mạc, lý do đủ khiến Nguyễn Hoàng có thể tự tin.

Thứ nhất là sự xuất hiện của nhân vật Mạc Thị Giai, con gái của phụ chính Mạc Kính Điển bên phía nhà Mạc, vợ chính của Nguyễn Phúc Nguyên.
Theo sử nhà Nguyễn thì bà sinh năm 1578 và vào Thuận Hóa năm 15 tuổi, tức là sau khi nhà Mạc mất Thăng Long (7).
Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Mạc Kính Điển có chín người con gái. Thời điểm Mạc Kính Điển chết, năm 1580, thì chỉ có người con gái nhỏ nhất, mới ba tuổi là chưa được phong hiệu. Các ghi nhận của nhà Lê về Mạc Kính Điển có lẽ chính xác vì vai trò to lớn của Mạc Kính Điển và vì năm 1580 bên phía nhà Lê Trung hưng đã là một triều đình ổn định với đủ ban văn võ nên có điều kiện để theo dõi và ghi chép. Vậy
theo sử nhà Nguyễn thì người con gái út ba tuổi đó là Mạc Thị Giai, theo cách tính tuổi của thời xưa người sinh năm 1578 sẽ là ba tuổi vào năm 1580.
Tuy nhiên Mạc Thị Giai còn có một người em gái tên là Mạc Thị Lâu, cũng vào Thuận Hóa và về sau lấy một vị quốc sư ở Đàng Trong là Võ Quới Công (8), như vậy người con gái của Mạc Kính Điển vào Thuận Hóa khi sau khi nhà Mạc thất bại là Mạc Thị Lâu chứ không thể là Mạc Thị Giai được. 
Bộ sử Đại Nam thực lục cũng ghi nhận Mạc Thị Giai là con gái trưởng của Mạc Kính Điển (13), vậy đã khá lớn tuổi ở thời điểm sau năm 1592 nên không thể đến thời điểm đó bà mới trở thành vợ của Nguyễn Phúc Nguyên, vị tiềm chúa mà lúc đó cũng đã trên ba mươi tuổi nên  khả năng chưa lập chính thất là rất khó xảy ra. Chi tiết Mạc Thị Giai là sinh năm 1578 và lấy Nguyễn Phúc Nguyên sau năm 1592 tất phải là sự chép lùi cả hai thời điểm, tức là cuộc kết hợp này vốn xảy ra trước khi nhà Mạc thất bại.
Như vậy con gái của Mạc Kính Điển lấy con trai Nguyễn Hoàng ở thời điểm vẫn còn phân tranh Lê-Mạc. Thời điểm có lẽ trước năm 1580, vào giai đoạn Mạc Kính Điển còn sống, nếu căn cứ trên năm sinh của Nguyễn Phúc Nguyên là 1563 và độ tuổi lập gia thất hồi xưa là khoảng 15-16 tuổi. Bản lý lịch của Mạc Thị Giai chắc hẳn đã bị sử gia triều Nguyễn nhập nhèm với người em gái Mạc Thị Lâu về tuổi và thời gian vào Thuận Hóa. 

Thứ hai là sự xuất hiện của Mạc Cảnh Huống, em của tổng súy Mạc Kính Điển, bên cạnh Nguyễn Hoàng. Hai người này trở thành anh em cọc chèo (9), và Mạc Cảnh Huống được ghi nhận là một trong ba công thần khai quốc của Đàng Trong (10). Thân phận thực của Mạc Cảnh Huống có lẽ đã không bị phát hiện bởi phía nhà Lê nên không có sự ghi nhận. Sử nhà Nguyễn chép Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa theo Nguyễn Hoàng năm 1558 và được liệt kê cùng với Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, cậu ruột của Nguyễn Hoàng, với Luân quận công Tống Phước Trị (11), người đồng hương và là tiền nhiệm sau đó ở lại phụ tá, góp công hàng đầu trong việc mở mang khai phá. Về mặt thời điểm có vẻ thiếu hợp lý, bởi lúc đó ông còn trẻ, lại chưa có danh vọng gì ở phía bắc thì không thể có ngay vị trí quan trọng ngang hàng với Thái phó và Luân quận công được. Mặt khác, khó có thể nhìn thấy cơ hội cho Nguyễn Hoàng ở thời điểm năm 1558 để một hoàng tử nhà Mạc đi theo.
Thời gian Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa là năm 1568, theo bản gia phả dòng họ từ lâu được giới nghiên cứu biết đến. Ghi chép này có vẻ hợp lý hơn (12). Ông làm tới chức thống binh và còn là người tham mưu trong màn trướng, như vậy vai trò rất lớn của Mạc Cảnh Huống là về mặt quân sự. Khoảng thời gian này Bùi Tá Hán mất tích, khả năng rất lớn là đã bị ám sát, khiến họ Trịnh phải cử Nguyễn Bá Quýnh vào thay thế.
Mạc Cảnh Huống lấy Nguyễn Thị Ngọc Dương, dì ruột Nguyễn Phúc Nguyên. Từ nhỏ vị tiềm chúa đã là con nuôi của cặp vợ chồng này (13). Người cháu gái là Mạc Thị Giai, con gái trưởng của Mạc Kính Điển, lấy Nguyễn Phúc Nguyên. Con trai trưởng của Mạc Cảnh Huống là Mạc Cảnh Vinh về sau cũng phò tá đắc lực cho Nguyễn Phúc Nguyên, năm 1629 ông đánh dẹp loạn ở Phú Yên, giúp lập nên dinh Trấn Biên, vì có công lao ấy nên được đặc cách cho dùng ấn son. Mạc Cảnh Vinh lại lấy con gái trưởng của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (14). Vậy gia tộc Mạc Cảnh Huống có địa vị rất cao ở Đàng Trong giai đoạn khởi đầu. Sử nhà Nguyễn đã hoàn toàn không đề cập đến nguyên nhân Mạc Cảnh Huống theo giúp chúa Nguyễn. 

Với việc hai người thân của phụ chính Mạc Kính Điển vào nam và có địa vị quan trọng ở Đàng Trong, có thể xác định rằng hai bên đã có mối liên kết, đã có nguồn hỗ trợ từ nhà Mạc. Đó chính là cơ sở quan trọng để Nguyễn Hoàng quyết tâm tạo dựng Đàng Trong.

Điều củng cố cho diễn giải trên là nhà Mạc không cất đại binh tấn công Đàng Trong.
Có một cuộc tấn công quy mô nhỏ của tướng Lập Bạo bên phía nhà Mạc được chép là vào năm 1572 với 60 chiếc thuyền (15). Về việc này sử chép khá thiếu hợp lý khi cho rằng Lập Bạo chỉ dẫn 60 chiếc thuyền mà cũng uy hiếp được hai trấn Thuận Quảng, thiếu cơ sở thực tế. C
uộc tấn công của nhà Mạc đến mức Nguyễn Hoàng phải cầu đến thần linh trợ giúp (16). Đây có thể là một câu chuyện được dựng lên hoặc chỉnh sửa. Theo sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí thì cuộc tấn công xảy ra khi Nguyễn Hoàng vừa mới vào Thuận Hóa, lực lượng còn yếu, chứ không phải khi đã kiêm quản cả hai trấn.

Sau khi nhà Mạc thất bại thì sự liên kết này hiển nhiên không còn giá trị lợi dụng. Việc thừa nhận nó không những không còn cần thiết mà còn có chỗ bất lợi cho họ Nguyễn, đó là phải thừa nhận sự lắt léo của công cuộc phò Lê, điều mà vẫn còn giá trị lợi dụng. Có thể vì thế mà sử gia nhà Nguyễn coi đó là một chương cần phải cắt bỏ, dẫn tới sự mâu thuẫn khó giải thích của lịch sử.


Về lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Như đề cập ở phần đầu của bài này thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ không có vai trò gì trong sự kiện năm 1558. Theo sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí thì lời tư vấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng là vào năm 1600, lúc Nguyễn Hoàng đang lâm vào thế bí ở đất bắc (17). Trên thực tế thời điểm đó Nguyễn Bỉnh Khiêm chết đã 15 năm rồi nên câu chuyện nếu có thì cũng sai về thời điểm. 
Sử gia đã không giải thích hợp lý bối cảnh giai thoại "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân", năm 1558, hay 1600.

Liệu có cách giải thích nào hợp lý?

Có một thực tế là nhiều câu chuyện mang vẻ huyền bí thường được dựng nên để phục vụ ý đồ của một số người. Chẳng hạn câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" được đồn thổi giữa bối cảnh Đàng Ngoài đang loạn lạc sẽ có tác dụng rất lớn lôi kéo dân chúng di cư vào Đàng Trong, phục vụ cho lợi ích chúa Nguyễn.

Cơ sở của câu chuyện này, nếu có, thì phải dựa trên hai yếu tố thực tế.
Một là, sự mô tả Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật đứng trung gian trong cuộc tranh chấp, là không đúng. Nếu một trí thức thuộc hàng biểu tượng, sống ở đất Bắc, mà lại có thái độ như thế thì nhà Mạc không có lý do để giữ được Thăng Long đến 65 năm trước sức tấn công bền bỉ từ phía Thanh Nghệ. Nếu xem xét kỹ trước tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, về những lời của vua Mạc Mậu Hợp và Sách Quốc công Giáp Hải dành cho ông thì rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm đứng hẳn về phía nhà Mạc và có thời gian phục vụ triều Mạc khá dài chứ không chỉ có tám năm như nhiều ý kiến về sau (18).

Hai là Nguyễn Ư Dĩ vốn là người Hải Dương, tức là đồng hương với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Hoàng, vì vậy là người có một phần liên hệ thân thiết ở phía bắc, triều Nguyễn về sau đã cho lập đền thờ Nguyễn Minh Biện, ông ngoại của Nguyễn Hoàng, ở Tứ Kỳ và phong là trung đẳng thần (19). Lại có những người từ vùng Cổ Trai của nhà Mạc vào lập làng Cổ Trai ở Quảng Trị vào khoảng những năm 1560, họ còn lập nên chùa Lam Sơn mà Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Giai đã ở đó trước khi gặp cha con Nguyễn Hoàng (theo khảo cứu của L. Cadière trong bài viết "Về bà vợ của Sãi Vương ") (20). Như vậy sự tiếp cận lẫn nhau giữa phe Nguyễn Hoàng với phe nhà Mạc là khả thi, dẫn tới những liên hệ phát sinh. 
Có thể những hoạt động của Mạc Cảnh Huống, Mạc Thị Giai cùng với lời mách nước của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng là nằm trong cùng một kế hoạch. Việc Mạc Cảnh Huống vào giúp Nguyễn Hoàng xảy ra trước năm 1570 cho thấy đã sớm có sự liên hệ giữa hai bên. Một khả năng rất thực tế là nhà Mạc đã đưa ra kế hoạch lôi kéo thuyết phục được Nguyễn Hoàng lập cõi riêng ở phương Nam bằng việc thu lấy trấn Quảng Nam, nếu không thuyết phục được Trịnh Kiểm giao cho thì vẫn sẽ đoạt lấy bằng vũ lực. Sự yểm trợ bằng thủy quân, thế mạnh của nhà Mạc, có thể giúp Nguyễn Hoàng chiếm và giữ được Thuận Quảng. Nếu quả thực có câu mách nước "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng thì đặt trong thời điểm này là thích hợp nhất. 
Có lẽ Trịnh Kiểm đã cảnh giác nên tuy vẫn giả vờ giao cho Nguyễn Hoàng nhưng lại ngầm trừ bỏ, tính toán đó đã bị nắm bắt bởi người cơ trí hơn nên kế hoạch bị phá sản

Những lý giải trên đây rõ ràng hp lý hơn so với những ghi chép được thể hiện bởi sử quan nhà Nguyễn vào thế kỷ 19 và được thừa nhận cho đến nay.

Bàn thêm về hiện tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm. 

Việc coi Nguyễn Bỉnh Khiêm tư vấn cho nhà Mạc lên Cao Bằng và cho Trịnh Kiểm giữ nhà Lê thì thiếu cơ sở thực tế. 
Không có chứng cứ là sau thất bại ở Thăng Long thì nhà Mạc rút thẳng lên Cao Bằng. Ban đầu các lực lượng nhà Mạc hoạt động mạnh ở vùng Hải Dương và Quảng Ninh, về sau thất bại mới phải lùi dần lên khu vực miền núi hiểm trở. Cao Bằng rõ ràng là vùng phù hợp nhất vì vừa rộng, vừa hiểm yếu lại giáp biên giới nên dễ lẩn tránh khi bất lợi. Không thể nói rằng phải có con mắt chiến lược Nguyễn Bỉnh Khiêm mới nhìn ra.
Đối với trường hợp được cho là mách nước cho Trịnh Kiểm câu "giữ chùa thì ăn oản" lại càng thiếu cơ sở. Nguyễn Bỉnh Khiêm rõ ràng coi thế lực phía nam là nghịch tặc (xem chú thích 18). Ông cũng từng có lời khuyên Nguyễn Thiến bỏ Lê để về Mạc (21). Ông có sáu con trai phục vụ triều Mạc, những người này phải trốn tránh khi nhà Mạc thất bại, có người phải đổi ra họ Giang và con cháu giữ họ này đến nay. Vì vậy không thể có khả năng Trịnh Kiểm cho người đi vấn kế Nguyễn Bỉnh Khiêm được.

Những huyền thoại bao quanh nhân vật Nguyễn Bỉnh Khiêm là rất phong phú và không ngừng được chắp nối và lý giải thêm. Việc đưa vào văn bản được biết chỉ mới bắt đầu từ cuốn sách "Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí" của Bảng trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm, vào năm 1719 ở Đàng Trong với câu 
"Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân", sau đó mới đến sách "Công Dư Tiệp Ký" của Vũ Phương Đề ở Đàng Ngoài, tk18, chép những giai thoại mà sau này được đặt tên là "phiến ngữ toàn tam tính", rồi đến nay thì ngay cả những cuốn sách lịch sử mang tính hàn lâm cũng đưa vào. 

Có những lý do có thể là nguyên nhân cho hiện tượng này.

Thứ nhất, vốn Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật nổi bật của thời đại, ông lại là một nhà nghiên cứu về dịch lý và có tuổi thọ đến g
ần 100 năm, là điều rất hiếm. Đương thời ông đã được coi là một vị tiên nơi hạ giới (Giáp Hải gọi ông là thế thượng tiên). Vì vậy những huyền thoại quanh Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ đã phát sinh để đáp ứng nhu cầu tin vào những điều huyền bí con người.
Thứ hai, là việc xây dựng huyền thoại trong trường hợp này có thể phục vụ cho mục đích của một số bên. 
Những người hành nghề bằng huyền môn giải thích sấm ký để trục lợi.
Thế lực cai trị cũng có động cơ tẩy não dân chúng bằng việc gán  nhà Lê thành hình tượng một ngôi chùa cần phải giữ, theo ý trời, qua đó giúp họ cơ sở kéo dài sự tồn tại của chế độ mãi mãi. 
Qua việc xây dựng một hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm thành người không trung thành với nhà Mạc, họ còn đạt được mục đích hạ thấp kẻ thù.

Họ Nguyễn ở phương nam cũng có lợi ích xây dựng chính danh, mà việc mượn nhà huyền học Nguyễn Bỉnh Khiêm để gán vào một câu nói mang ý nghĩa thiên mệnh cho dòng họ mình là một cách rất hiệu quả.
Và như đề cập ở trên, thì khái niệm dung thân, đáng mơ ước đối với dân chúng thời loạn lạc, chắc chắn có tác dụng rất hiệu quả lôi kéo dân chúng Đàng Ngoài đi vào Đàng Trong. Vì thế chúa Nguyễn có động cơ để quảng bá lời được cho là tiên tri này.

Câu chuyện Nguyễn Bỉnh Khiêm là một minh chứng cho sự hời hợt về nhận thức lịch sử của số đông, điều đó cũng tạo ra một địa hạt màu mỡ cho những câu chuyện được kể theo cách đầy sự tính toán.

Những phân tích như trên về Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhằm phủ nhận việc ông được cho là muốn mở rộng không gian sống cho người Việt về phía Nam. Việc một cá nhân vừa phục vụ chế độ vừa tìm cách đem lại lợi ích lâu dài cho dân chúng không phải là điều mâu thuẫn.

Nhận thức là một quá trình luôn vận động, qua đó những nhận thức sai lệch sẽ dần bị đào thải, để đi đến sự tường minh.

Việc tìm kiếm những tường minh về lịch sử là cần thiết cho sự trưởng thành. Tác giả mong nhận được ý kiến phản biện, trao đổi.




Nguồn tham khảo, trích dẫn, chú thích: 

1Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, từ trang 845 đến trang 848.
Về việc Nguyễn Hoàng dẫn theo bộ khúc và những người đồng hương đi theo thì các sách Đại Nam Thực Lục tiền biên và Đại Nam liệt truyện đều có ghi nhận. Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột Nguyễn Hoàng, theo Đại Nam Liệt Truyện thì ông này từng được nhà Lê phong thái phó, cũng đi theo Nguyễn Hoàng trong đợt này.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr845. Tháng 10 năm 1558 Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu tâu xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, cùng phối hợp với Trấn quận công ở Quảng Nam để phòng thủ, phàm công việc ở địa phương không cứ lớn nhỏ và các ngạch thuế, nhất thiết giao cho, hàng năm đến kỳ thu nộp.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 29,30
Nguyễn Khoa Chiêm, 1719, Nam Triều công nghiệp diễn chí, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nxb KHXH, xb2016, tr 33,34,35
4. Đại Việt sử ký toàn thưsđd, tr 859, 860
5. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr 914
6. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr 890
7. Quốc sử quán triều, Nguyễn, Đại Nam thực lụcsđd, tr 47 chép bà là con gái cả của Mạc Kính Điển, vợ cả của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, bà mất năm 1630, thọ 53 tuổi. 
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi rõ bà sinh năm Mậu Dần (1578) 
 Nguyễn Đức Minh, Lăng mộ bà Mạc Thị Giai,  http://vanhoaquangnamonline.gov.vn/bao-ton-bao-tang/lang-mo-ba-mac-thi-giai.html
Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giaihttps://mactrieu.vn/hoa-ng-ha-u-ma-c-thi-giai
10,11. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, sđd, tr 29,30
 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, bản dịch Đào Mộng Khương, Nxb Thuận Hóa, xb 2006, phần Truyện các bề tôi - Mạc Cảnh Huống 
12.  https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_Th%E1%BB%8B_Giai
 Nguyễn Đức Minh, Lăng mộ bà Mạc Thị Giai,  http://vanhoaquangnamonline.gov.vn/bao-ton-bao-tang/lang-mo-ba-mac-thi-giai.html
Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giaihttps://mactrieu.vn/hoa-ng-ha-u-ma-c-thi-giai
13,14. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyệnsđd, phần Truyện các bề tôi - Mạc Cảnh Huống 
15,16. Các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,  Đại Nam liệt truyện có ghi sự kiện này.
17. Nguyễn Khoa Chiêm, 1719, Nam Triều công nghiệp diễn chí, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nxb KHXH, xb2016, tr 65
18.Theo Trần Khuê, Nghiên cứu và tranh luận, Nxb KHXH, 1996, phần Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm & Vương triều Mạc):

"Một hệ thống luận cứ hiện thực và lịch sử chứng minh rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề có những mâu thuẫn kiểu đó. Ông không hề đứng trên các tập đoàn phong kiến mà dứt khoát đứng về một phía: tập đoàn nhà Mạc. Ông không hề phản đối chiến tranh chung chung mà phản đối những kẻ gây ra chiến tranh chống vua Mạc. 

Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình
 
(Lũ giặc ngang ngược điên khùng phạm cả vào kinh đô
Chúa lo thì tôi nhục, đáng thương tình biết bao)
("Cảm hứng thi") (tam) 
Thiên tâm như bất dung gian ngụy
Ứng vị vương sư trợ nhấtn kỳ.

(Lòng trời nếu chẳng dung tha kẻ gian ngụy
Thì hãy một phen trợ sức cho quân nhà vua).
("Quá Hữu Giang") (nhị). 

Rõ ràng “nghịch tặc”, “gian ngụy” và tất cả những chữ “tặc” khác trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỉ tập đoàn Lê-Trịnh; còn các từ “chủ”, “vương sư” hoặc “cửu trùng”, “thánh chủ”, “quân vương”, “đại giá”, v.v... là dùng để chỉ vua nhà Mạc.

Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những kẻ chống lại vua nhà Mạc là “gian” là “ngụy”; Nguyễn Bỉnh Khiêm theo vua Mạc đánh dẹp bọn gian ngụy để cứu nhân dân thoát cảnh bị “treo ngược”: 

Đại giá tây tuần trú thử sơn.
Nhất phương sĩ nữ vọng an toàn
Đảo huyền dân cửu ly hung đạo:
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan.

(Tây hộ quá Lục Yên châu).
(Xa giá lớn đi miền Tây, đóng quân ở núi này,
Khắp vùng trai gái đều trông mong được sống yên ổn.
Lâu nay dân sa vào tay bọn trộm cướp hung dữ như kẻ bị treo ngược;
Không ai là không động lòng từ thiện, tỏ tình thương xót).
("Hộ giá đi miền Tây qua châu Lục Yên").

Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và một số vị nghiên cứu khác cứ cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm mấy lần đi “tòng nhung” là do “bị vua Mạc ép đi thco quân”. Có lẽ một phần do các vị hiểu nhầm nghĩa từ “cưỡng” trong “cưỡng tòng nhung”, “cưỡng trí tòng nhung”, “cưỡng truy tù”... 

Từ “cưỡng” có ba nghĩa: 1. Không chịu khuất (resister, contrarier); 2. Ép buộc (foreer, obliger, contraindre); 3. Gắng sức (s’efforeer). Vì hiểu nhầm nên ông Đinh Gia Khánh và ông Hữu Thế mới dịch thành “gắng gượng”: 

Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân.
(Niên du lục thập cưỡng tòng nhung). 
Gượng dấn mình dự cuộc viễn chinh. 
(Cưỡng trí tòng nhung tán viễn chinh).
Chỉ có ông Lỗ Công hiểu đúng và dịch đúng: 
Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung
Giết giặc mong vì nước dốc trung

(Lão lai tương dữ cưỡng tòng nhung 
Diệt tặc do hoài báo quốc trung).
Và ông Hữu Thế cũng có một lần dịch đúng: 
Già si đần, gặp thời loạn lạc
Gắng theo quân bàn bạc mưu cơ

(Lão độn trùng phùng thư loạn ly 
Dự tham nhung mạc cường truy tùy). 

(Cũng nên lưu ý “cưỡng” có thể dùng làm ngoại động từ (verbe transitif) cũng có thể dùng làm nội động lừ (verbe intransitif). Trong các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu hết từ “cưõng” được dùng làm nội động từ. Do đó chủ ngữ ẩn trong các dòng thơ này không thể là vua Mạc mà chính là một đại từ phản thân (pronom réfléchi) chỉ tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịch là “gắng sức” hay “gắng gỏi” mới chính xác và mới bảo đảm được sự nhất quán của nội dung tác phẩm vì thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ bị ép buộc và ông cũng chưa bao giờ nói rằng mình bị ép buộc. Ông cho việc “tòng nhung” giết giặc là trách nhiệm của mình đối với vua, với dân. 

Ông hành động vì muốn báo dân ơn nước:
Diệt tặc do hoài báo quốc trung.

Vì muốn cho nhân dân sống yên vui: 
Đồ thán dân giai nhẩm tịch tê
(Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn).

Ông hành động vì nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết

(Ruổi rong chẳng quản thân hèn. 
Tấm lòng chí nghĩa vững bền sắt son).

Hơn nữa, vì muốn làm sáng đại nghĩa: 
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kỳ diệt tặc phục thần châu

(Vì nước bảo toàn ấu chúa, nêu rõ nghĩa lớn
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô)."

19. Theo Đại Nam Liệt Truyện
20.  L. Cadière, 1922, Những người bạn cố đô Huế, bản dịch của Phan Xưng, Nxb Thận Hóa, 2001, Tập IX, tr 264,265
21.  Qua bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi khuyên Nguyễn Thiến hồi tâm quay lại với triều Mạc, trong bài thơ 
Loạn trung ký Nguyễn Cảo Xuyên có câu: "Ta giúp con côi vì nghĩa trọng/ Ông khi xử biến há cam tâm"