Search This Blog

Thursday, November 28, 2019

Nguyễn Trãi có tên trong biển ngạch công thần?

Nguyễn Trãi có tên trong biển ngạch công thần?

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép sự kiện ban biển ngạch công thần vào năm Kỷ Dậu (1429) như sau: "Tháng 5, ngày mồng 3, ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo. Á thượng hầu 1 người là Lê Ngân. Hương thượng hầu 3 người là Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng, Đình thượng hầu 14 người là Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Thố, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật. Huyện hầu 14 người là: Lê Bị, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thụ, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bồi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật. Á hầu 26 người là bọn Lê Lạn, Lê Trãi. Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Thiệt, Lê Chương. Quan phục hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tự Trước phục hầu 4 người là bọn Lê Khắc Phục, Lê Hài." (Toàn Thư, Kỷ Lê Hoàng Triều, Thái Tổ Cao Hoàng Đế, tờ 67a).

Có nhận thức rằng Nguyễn Trãi chính là người trong nhóm Á hầu được liệt kê ở trên, dtrước đó ông đã được ban quốc tính nên được gọi là Lê Trãi.
Lại có nhận thức phổ biến rằng Nguyễn Trãi nằm trong nhóm Quan phục hầu, vì căn cứ vào một đoạn chép trước trên Toàn Thư mà người ta cho rằng ông đã được phong tước này từ trước.

Tuy vậy các thứ bậc khá thấp này có vẻ mâu thuẫn với vai trò quan trọng của Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến. Liệu có gì bất thường ở đây? Ngoài ra, trước đây có người đã từng lưu ý về sự khác nhau của chữ  豸 (Trãi, của người được ban Á hầu) và chữ 廌 (Trãi, của Nguyễn Trãi).

Từ đó có thể dẫn đến một số câu hỏi như sau:

- Nguyên nhân nào khiến Nguyễn Trãi, vốn là một trợ thủ đắc lực của Lê Lợi, lại không có vị trí nổi bật trong biển ngạch công thần?
- Có thể Lê Trãi, người nhận tước Á hầu, là một người khác với Nguyễn Trãi. Có thể Nguyễn Trãi cũng không ở trong nhóm Quan phục hầu. Vì một lý do nào đó, Nguyễn Trãi đã không có tên trong số 93 công thần ở trên?

Xin được phân tích.

Việc gắn Nguyễn Trãi với tước Quan phục hầu được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép một sự kiện ban thưởng vào tháng 3 năm Mậu Thân (1428), trước đợt ban biển ngạch công thần hơn một năm:

"Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc.
Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái Bảo; đều được ban quốc tính." (Toàn Thư, Kỷ Lê Hoàng Triều, Thái Tổ Cao Hoàng Đế, tờ 57b) 
Chữ được coi là "Quan phục hầu" ở trên vốn là 冠   . Chữ 冠 vốn có thể là quan hoặc quán, còn chữ 侯 thì có thể là hậu hay hầu. Như vậy 冠 服 候 là quan (quán) phục hầu (hậu) chứ không thể chắc chắn là quan phục hầu. Lại cần lưu ý Toàn thư chép là 以 承 旨 阮 廌 爲 冠 服 候 (dĩ thừa chỉ Nguyễn Trãi vi quan (quán) phục hậu (hầu), tức là lấy Nguyễn Trãi làm chức (hoặc nhiệm vụ) quan (quán) phục hậu (hầu), chứ không phải ban tặng cho ông tước Quan phục hầu. Việc ban tước thì dùng chữ ban hoặc phongtặng chứ không dùng chữ dĩ (lấy để làm việc hay chức gì đó). Bối cảnh này là cùng lấy Trần Nguyên Hãn làm chức Tả tướng quốc và Phạm Văn Xảo làm chức Thái bảo.
Đợt ban thưởng vào tháng 3 năm 1428 là ban chức chứ không phải phong tước.
Có thể đó là một chức do Lê Lợi đặt ra đặc biệt dành cho Nguyễn Trãi nhằm có thể thay mặt mình quán xuyến công việc. Đối chiếu với những việc Nguyễn Trãi từng được giao như Nhập nội hành khiển, kiêm hành khu mật viện sự, thay mặt Lê Lợi viết thư thảo hịch, đàm phán... và với việc để tên ông trước cả Tả tướng quốc và Thái bảothì phỏng đoán này không phải thiếu cơ sở. Một chi tiết nữa có thể củng cố cho giả thuyết này là sử chép việc Lê Lợi cuối đời nhiều bệnh nên đã từng giao cho con trai là Tư Tề thay mình quyết định việc chính sự. Giai đoạn đó Nguyễn Trãi đã thất sủng.
Do đó cũng không thể lấy việc ban tước đồng loạt năm 1429 có 16 người có tước Quan phục hầu để cho rằng Nguyễn Trãi cũng thuộc vào số đó.
Về tước Á hầu trong biển ngạch công thần ở trên, thì việc chép tên Trãi là chứ không là 廌 như cách chép thống nhất tên Nguyễn Trãi ở những chỗ khác ở trên dẫn đến việc cần phải xem xét là có thể đây là một người khác hay không.

Đầu năm 1429, tức là vài tháng trước đợt ban biển ngạch công thần, xảy ra sự kiện Trần Nguyên Hãn bị nhà vua bắt tội nên đã tự sát, việc này Toàn Thư bỏ qua không chép thời điểm đó, nhưng sách Đại Việt Thông Sử Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều chép. Toàn Thư ở phần Thái Tông Bản Kỷ thì chép:
"Trước kia, Thái Tổ khi về già có nhiều bệnh, lại thêm Quân Vương [Tư Tề] ngông cuồng, bậy bạ, vua thì còn trẻ thơ, mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công lao giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần và Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này họ có chí khác, nên bên ngoài thì đối xử theo lễ tiết hậu, nhưng trong lòng lại rất ngờ vực hai người.
Bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đón biết ý vua, dâng sớ mật, khuyên Thái Tổ quyết ý giết đi. Nếu có ai không vui, bọn Quốc Khí liền chỉ vào họ mà bảo họ là bè đảng của hai nhà ấy, nên rất nhiều người bị xử tử và đi đày. Các quan đều sợ miệng bọn chúng không dám nói gì." - tờ 5b.
Đây rõ ràng là những vụ án lớn, rất nhiều người bị liên lụy. Nguyễn Trãi là người thân cận với Trần Nguyên Hãn tất khó mà yên ổn được.
Một chứng cứ nói về việc ông bị bắt tội, là bài thơ Oan thán, như sau:
Phù tục thăng trầm ngũ thập niên,             
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.           
Hư danh, thật họa thù kham tiếu,               
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.           
Số hữu nan đào tri thị mệnh.                     
Văn như vị táng dã quan thiên.                  
Ngục trung độc bối không tao nhục,   
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên        

Dịch nghĩa (bản dịch trên trang thivien.net):

Nổi chìm trong cảnh phù tục đã năm mươi năm
Đành phụ với khe đá núi cũ
Danh hư mà họa thực, thật đáng buồn cười
Chúng nhạo kẻ trung thành đơn độc thật đáng thương hại
Khó chạy khỏi số trời, biết là có mạng
Nền văn cũng chưa mai một nhờ trời
Trong ngục xem lưng tờ giấy, thật là nhục nhã
Làm sao đạt được tờ giấy (khiếu oan) đến cửa khuyết vàng (cung vua)?           
Chi tiết "ngũ thập niên" cho biết ông làm bài thơ này lúc 50 tuổi, tức là vào năm 1429. Vì Nguyễn Trãi sinh năm 1380, theo cách tính của người xưa thì đến năm 1429 thì Nguyễn Trãi được tính là 50 tuổi. Vụ án Trần Nguyên Hãn xảy ra trước đợt ban biển ngạch công thần ba tháng, đó là lý do tên của vị công thần này không có trong phong thần bảng. Nguyễn Trãi đã bị bắt giam, đến việc muốn chuyển ý kiến lên nhà vua còn không được, thì làm sao có thể được ban tước.
Vậy người có tên Lê Trãi trong danh sách đó là ai?
Cái tên Lê Trãi, với chữ Trãi 豸đúng như tên người nhận tước Á hầu đã lại xuất hiện ở một chỗ khác. Đó là ghi chép trên Toàn Thư, phần Thái Tông Văn Hoàng Đế, chép sự kiện ngày 13 tháng giêng năm 1434 (tức là chỉ sau sự kiện ban biển ngạch gần bốn năm): Thập tam nhật, trừ nội ngoại đại tiểu quan viên Lê Trãi (黎 ) đẳng nhất bách ngũ thập lục nhân. (Ngày 13, bổ các quan viên lớn nhỏ trong ngoài là bọn Lê Trãi 156 người). Mà lúc này trong các ghi chép trên Toàn Thư thì Nguyễn Trãi đã mang họ Nguyễn chứ không còn mang quốc tính là Lê nữa. Trong thời gian tiếp theo dưới triều Lê Thái Tổ thì cái tên Nguyễn Trãi không hề xuất hiện trong Toàn Thư, có lẽ ông được tha nhưng đã thất sủng, cho đến lúc làm văn bia Vĩnh Lăng năm 1433 sau cái chết của nhà vua thì mới lại xuất hiện tên ông, đề trên lạc khoản là Nguyễn Trãi, và tiếp tục được dùng sau đó. Vậy thì Lê Trãi (黎 豸) là một nhân vật khác chứ không phải là Nguyễn Trãi (阮 廌).

Đến đây đã có thể bác bỏ cả hai tước là Quan phục hầu và Á hầu, thường gán một cách nhầm lẫn cho Nguyễn Trãi. Có thể nói rằng Nguyễn Trãi không thuộc vào 93 người có tên trên biển ngạch công thần.



No comments:

Post a Comment