Search This Blog

Friday, September 30, 2022

Tên gọi Cổ Loa

 

This image has an empty alt attribute; its file name is chau-duong-lam.png
Vị trí phỏng định về châu Đường Lâm

Cổ Loa là tên gọi một di tích thành cổ, ở vị trí nay là xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Ngày nay giới khảo cổ phát hiện ra rằng đây là tòa thành có quy mô lớn, tồn tại từ trước Công nguyên, được nâng cấp nhiều lần qua nhiều thế kỷ.

Một số sử sách xưa gán thành này là Loa Thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau [kỷ nhà Thục, trang 6a]: “Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại”.

Những chi tiết về Thục Vương và Loa thành gây khá nhiều tranh cãi trong giới viết sử. Chẳng hạn Ngô Thì Sĩ viết trong mục An Dương Vương, sách Đại Việt sử ký tiền biên, là: “Truyện ở Ngoại kỷ phần nhiều là càn rỡ”, các tác giả bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cho rằng: “…chứ nếu bảo Thục Vương đây lại là người ở Ba Thục thì không phải”. Vậy, xưa đến nay luôn có ý kiến cho rằngcâu chuyện này có nhiều chỗ không phù hợp thực tế.

Đoạn chép trên Toàn thư có một chi tiết rất đáng xem xét, đó là thành này được người nhà Đường [618-907] gọi là Côn Lôn Thành (崑 崙 城).Kỷ nguyên độc lập của người Việt bắt đầu ngay thời điểm sụp đổ của nhà Đường, mà năm 938 tòa thành thuộc làng Cổ Loa này lại được Ngô Quyền chọn làm kinh đô. Hẳn là đã có một quá trình ghi nhận liên tục từ tên gọi Côn Lôn đến địa danh Cổ Loa và Loa Thành rồi đi vào sử sách.

Tuy nhiên lời giải thích của sử gia người Việt, người nhà Đường đặt tên thành là Côn Lôn vì thành rất cao, là không đủ căn cứ. Sử sách nhà Đường không nói điều này. Chúng ta cũng khó có thể tìm ra một trường hợp nào là tiền lệ cho việc gán ghép tên dãy núi Côn Lôn với một tòa thành.

Phải chăng tên gọi Côn Lôn của tòa thành này xuất phát từ một ý nghĩa khác?

Trong sử sách cổ Trung Quốc thì từ Côn Lôn còn mang ý nghĩa chỉ những tộc người ở ven biển và hải đảo phía nam. Người Lâm Ấp và Phù Nam được họ coi là thuộc nhóm Côn Lôn. Ngày nay thì khái niệm đó có phần tương ứng người Nam Đảo (Austronesian). Nhóm Nam Đảo hiện vẫn là thành phần lớn nhất của cư dân Đông Nam Á. Ngay nhiều nhóm ở sâu trong nội địa Đông Nam Á và phía nam Trung Quốc cũng được nhiều ý kiến trong giới khoa học cho rằng vốn cũng tách ra từ người Nam Đảo.

Tuy nhiên, một điều không nhiều người biết là chính miền Đường Lâm, quê hương của Ngô Quyền, cũng từng thuộc về Lâm Ấp. Đường thư địa lý chí cho biết: “Phúc Lộc Đường Lâm quận vốn là Phúc Lộc quận. Năm thứ 2 niên hiệu Tổng Chương [669] quan Thứ sử Trí Châu là Tạ Pháp Thành chiêu dụ Sinh Lạo, Côn Minh, Bắc Lâu hơn 70 bộ lạc, lấy đất của quận Lâm Ấp nhà Đường mà đặt ra. Năm đầu niên hiệu Thái Định đổi tên là An Vũ Châu. Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đức [757] đổi làm quận gọi là Đường Lâm. Năm đầu niên hiệu Càn Nguyên [758] lại phục hồi lại tên cũ của châu. Tùy địa lý chí cho biết về quận Lâm Ấp này, năm đầu niên hiệu Đại Nghiệp [605] nhà Tùy bình nước Lâm Ấp, đặt ba châu là Đăng Châu, Nông Châu, Sung Châu, sau đổi thành các quận là Tỵ Ảnh, Hải Âm, Lâm Ấp.

Côn Minh và Bắc Lâu là các địa danh thuộc Vân Nam Trung Quốc. Có thể thấy rằng Đường Lâm là một châu miền núi, kéo dài từ phía Sơn Tây ngược lên hướng tây bắc, miền đất tương ứng với trấn Sơn Tây sau này.

Làng Đường Lâm của Ngô Quyền khá gần với Cổ Loa, theo đường thủy thì đến được sát chân thành.

Toàn thư cho biết năm 979 người Chiêm Thành từng cho hơn 1000 chiến thuyền sang giúp một hậu duệ nhà Ngô là Ngô Nhật Khánh nhằm lật đổ nhà Đinh vào năm 979. Tống sử cho biếtquốc vương Chiêm Thành năm 985 tên là Thi Lợi Đà Bàn Ngô Nhật Hoan. Đặt hai chi tiết này cạnh nhau và cùng với chi tiết Đường Lâm từng thuộc Lâm Ấp chúng ta sẽ thấy mối liên hệ giữa họ Ngô và người Chiêm Thành, triều đình thừa kế người Lâm Ấp, tức là người Côn Lôn.

Trong các bài viết trước, tôi đã chỉ ra rằng Lâm Ấp từng là một đất nước rộng lớn, kép dài từ phía cực nam Trung Quốc đến núi Đại Lãnh ở miền trung Việt Nam. Đến thời nhà Tùy và nhà Đường thì người Trung Quốc chiếm được một phần lãnh thổ Lâm Ấp, bao gồm kinh thành Điển Xung và chủ yếu phần phía đông bắc. Địa bàn này bao gồm đồng bằng Bắc Bộ, tức là bao gồm Cổ Loa.

Lâm Ấp, khu vực văn minh biển đảo, rồi chịu ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Về sau, dưới chế độ Bắc thuộc và các triều đại phong kiến Việt Nam, ảnh hưởng từ Trung Quốc dần lấn át. Điều này dẫn đến một thực tế là ngày nay người ta không nhận thức đúng mức tính chất bản địa cũng như ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, mà thông qua nó là văn hóa Champa, lên vùng đất Đại Việt. Những dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực trong dân gian ở Bắc Bộ khá gần gũi với văn hóa Chăm. Ngay tại chùa Dạm ở Bắc Ninh có một cột đá khổng lồ giống biểu tượng linga của người Chăm, mà các hoa văn trên đó cũng được một số chuyên gia xác định là do người Chăm làm ra. Sự phổ biến của trống đồng ra tới miền hải đảo Indonesia chỉ có thể giải thích được nếu tính đến vai trò của cư dân Nam Đảo. Từ lâu, giới khảo cổ đã nhận thấy mối quan hệ giữa nền văn hóa Đông Sơn ở đồng bằng Bắc Bộ và nền văn hóa Sa Huỳnh của cư dân Nam Đảo ở miền Trung có từ giai đoạn đầu Công nguyên, ảnh hưởng lẫn nhau từ hai phía. Nội dung này có thể được tìm thấy trong các bài viết của Nishimura Massarani, Bùi Chí Hoàng, Mariko Yamagata…trong đó còn nhắc tới những tác giả đi trước như M. Colani, Hà Văn Tấn.

This image has an empty alt attribute; its file name is cotdachuadam.jpg



Như vậy rất có thể tên gọi thành Côn Lôn là do người nhà Đường gọi thành của người Côn Lôn, tức là của người Lâm Ấp.

Câu chuyện Thục An Dương Vương và Triệu Đà là một câu chuyện khác, ở một địa phương khác, được gán vào, nên lộ ra nhiều điều vô lý. Tôi sẽ đề cập rõ hơn trong những bài viết sau.



Tên gọi Cổ Loa is now live.

What’s next?

View PostAdd New Post

Take advantage of the QR code to open the post from different devices.

Convert to audio

Seamlessly turn this post into a podcast episode with Anchor - and let readers listen to your post.

Create a podcast episode
This post has been sent to 2 readers

Wednesday, August 17, 2022

Chữ Nôm và Quảng Nam

 Tiêu đề bài viết này thực ra không bao quát hết được nội dung, chỉ là tạm thời đặt thế.

Trước hết, xin nói đến khái niệm cách đọc Hán Việt. Hiểu một cách nôm na thì đó là hệ thống cách đọc văn tự Hán theo kiểu Việt Nam, thay vì đọc theo tiếng Hán. Tức là người Việt dùng chữ Hán nhưng không trở thành người biết nói tiếng Hán.

Tôi cũng xin đề cập đến một cách giải thích khác, cho rằng đây là phát âm tiếng Hán thời Đường, còn người Trung Quốc hiện nay lại phát âm chệch đi do hậu quả của những thời kỳ bị người bên ngoài cai trị. Tức là cách phát âm của người Việt “nguyên bản” hơn. Ý kiến này chỉ có thể được chấp nhận nếu chúng ta chấp nhận hai điểm cùng lúc. Thứ nhất là người Việt có thể phát âm được khá nguyên bản tiếng Hán Đường trong thời kỳ tiếp nhận, thứ hai là người Trung Quốc có thể bị thay đổi tiếng nói bởi nhà cai trị thiểu số. Về điểm thứ nhất, chúng ta đều biết rằng bộ phận phát âm của mỗi con người đã được định hình từ rất sớm để phù hợp với tiếng mẹ đẻ, vì vậy việc phát âm chuẩn một ngôn ngữ thứ hai là rất khó khăn. Trên quy mô một dân tộc thì điều này hầu như không thể. Về điểm thứ hai, các chứng cứ lịch sử chỉ ghi nhận nỗ lực của người Mãn Thanh nhằm thay đổi việc cắt tóc và y phục của người Hán, mà điều đó đã rất khó khăn rồi, nói gì đến việc khiến người Hán thay đổi tiếng nói, nếu nhà cai trị quả có muốn thực hiện. Tóm lại thuyết “nguyên bản” này rất ngớ ngẩn.

Nhiều ý kiến cho rằng đó là cách phản ứng của tầng lớp tinh hoa bản địa nhằm chống lại sự đồng hóa của người Hán trong thời kỳ Bắc thuộc. Vậy thì đây phải là kế hoạch có tổ chức, có hệ thống, có quá trình lâu dài. Vấn đề là tại sao nhà cai trị phương Bắc lại có thể để yên? Mặt khác, theo lẽ tự nhiên thì không thể bỏ qua tâm lý người học hướng đến việc phát âm cho chuẩn khi học chữ, vậy lý do nào lại đều chấp nhận hệ thống phát âm quá sai lệch so với nguyên bản. Cách giải thích như này rõ ràng là không thỏa đáng.

Nếu nói rằng đây là chủ trương của chế độ, khi buộc phải sử dụng chữ Hán vì những lợi ích của nó, nhưng lại không muốn cho dân chúng nói được tiếng Hán, thì hợp lý hơn. Hoặc ít nhất thì hệ thống chữ viết đã hiện diện rất lâu trước khi có sự cai trị của người Trung Quốc, nên việc phát âm đã hoàn toàn bản địa hóa, nhà cai trị không có thể còn thay đổi. Vậy thì chế độ đó phải là độc lập chứ không thể của người Trung Quốc được.

Bây giờ xin nói về chữ Nôm. Đây là bộ chữ riêng, để biểu đạt những từ vựng bản địa, do không thể tìm ra chữ Hán phù hợp, chữ đồng nghĩa thì khác âm, mà chữ đồng âm thì lại khác nghĩa. Chữ Nôm dựa trên chữ Hán, đại khái gồm một phần biểu đạt ý của từ, ghép với một phần biểu đạt âm (hoặc gần giống âm) của từ đó.

Hiện nay phần lớn các quan điểm vẫn cho rằng chữ Nôm được tạo ra vào những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ hai, trong khi người ta lại chấp nhận rằng hệ thống Từ Hán Việt có từ thiên niên kỷ thứ nhất. Chúng ta có thể thấy sự bất hợp lý khi cho rằng người Việt biết du nhập chữ Hán, biết cách chế ra cách phát âm Hán Việt riêng cho mình, mà đến nhiều thế kỷ sau mới biết vận dụng chữ Hán để biểu đạt từ thuần Việt. Vậy thì rất có thể chữ Nôm cũng bắt đầu được tạo ra trong cùng giai đoạn với hệ thống từ Hán Việt.

Nhìn sang khu vực dân tộc Choang ở phía bắc biên giới, họ cũng có hệ thống chữ vuông được chế từ chữ Hán để biểu đạt từ bản địa, thể hiện trên tấm bia do Vi Kính soạn vào năm Vĩnh Thuần nguyên niên (năm 682) đời Đường (1). Tức là tư tưởng vận dụng chữ Hán để biểu đạt từ bản địa đã xuất hiện khá sớm ở phía nam.

Từ “Nôm” có nghĩa phổ thông là “Nam”, chỉ phương nam. Đây là phương ngữ Quảng Nam của tiếng Việt chứ không phải là ngôn ngữ phổ thông. Vấn đề đặt ra là tại sao người ta không gọi là chữ Nam mà lại gọi là chữ Nôm? Ngoài ra, có một số chữ Nôm được cho là do đọc chệch mà thành, ví dụ: "gió" 這 (mượn âm "giá"), "cửa" 舉 (mượn âm "cử"), "đêm" 店 (mượn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mượn âm "trãi") (2), những trường hợp này cho thấy sự gần gũi với phương ngữ Quảng Nam. Vậy phải chăng quá trình sáng tạo chữ Nôm đã dựa một phần vào phương ngữ Quảng Nam, tức là thời đó đã có phương ngữ Quảng Nam và có yếu tố Quảng Nam trong tầng lớp cầm quyền? Chúng ta hãy xem xét một số chứng cứ.

Ngày nay người ta đã có những nhận thức mới về sự giao thương và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các khu vực ở thời đầu Công nguyên. Ví dụ, ở di chỉ Lũng Khê thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, những chứng cứ về mối quan hệ giữa khu vực này và miền Trung hay Nam Bộ đã được tìm thấy. Theo công bố của nhà khảo cổ học người Nhật là Nishimura Masanari (3), gồm có: 1. Bàn nghiền đá hình chữ nhật có chân. Những hiện vật giống nó cũng được tìm thấy ở di chỉ Óc Eo, tỉnh An Giang. Đây là bàn nghiến kiểu Ấn Độ/ 2. Bình gốm Kendi. Hình dáng gần giống với những bình Kendi được phát hiện ở Trà Kiệu thuộc Quảng Nam. Đây là loại hiện vật có nguồn gốc Ấn Độ, rất phổ biến ở những di chỉ thuộc khu vực Đông Nam Á, thuộc thiên niên kỷ 1 Công nguyên./ 3. Chì lưới lỗ. Loại hiện vật này cũng được phát hiện ở Óc Eo và trong bộ sưu tập của vị cha Anton ở thành cổ Trà Kiệu, Quảng Nam/ 4. Đầu ngói ống. Loại đầu ngói ống này còn được phát hiện ở thành cổ Trà Kiệu, Quảng Nam và ở di tích lò Tam Thọ, Thanh Hóa. Trang trí của loại hiện vật này cho thấy có liên quan đến Phật giáo và Ấn Độ giáo.

Ở các tỉnh vùng Tây Nguyên người ta phát hiện được nhiều trống đồng có niên đại trên dưới 2000 năm (4). Sự phát triển của khoa học khảo cổ đã cho thấy những tương tác giữa khu vực miền Bắc và miền Trung của Việt Nam cũng như với văn hóa Ấn Độ sớm hơn và sâu sắc hơn, góp phần giúp chúng ta xem xét lại lịch sử.

Trong bài viết trước, tôi đã chứng minh rằng thực tế không có cái gọi là nghìn năm Bắc thuộc mà chỉ có hai giai đoạn Bắc thuộc, từ năm 43 đến 192 và từ năm 605 đến 905. Từ năm 193 đến 604 trên lãnh thổ chúng ta là nước Lâm Ấp độc lập với Trung Quốc. Kinh thành Điển Xung của Lâm Ấp ở dưới chân núi An Phụ, vị trí nay là xã An Sinh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Cách bờ biển chừng trên 20km. Lâm Ấp thời kỳ hùng mạnh có lãnh thổ trải dài từ miền cực nam Trung Quốc cho đến núi Thạch Bi thuộc dãy núi Đại Lãnh, ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay.

Bộ sách Tấn thư, phần chép về Lâm Ấp, cho biết rằng từ triều vua Phạm Văn, nửa đầu thế kỷ 04, triều đình Lâm Ấp bắt đầu chủ trương học theo Trung Quốc. Vậy thì có thể cho rằng đây là mốc hợp lý cho sự ra đời của hệ thống phát âm Hán Việt và hệ thống chữ Nôm.

Các sử liệu Trung Quốc cho thấy họ từng gọi vương triều Lâm Ấp, ở một giai đoạn đóng đô ở miền Trung, mà được cho là tại vị trí thành cổ Trà Kiệu, là Hoàn Vương. Hoàn Vương cũng có nghĩa là vương triều quay trở về.

Với các dữ liệu trên, chúng ta có thể tìm thấy một câu trả lời cho vấn đề từ Hán Việt, chữ Nôm và tiếng Quảng Nam. Đó là, sau giai đoạn thuộc Hán (43 đến 192) ở khu vực đồng bằng ven biển phía bắc, đây là Lâm Ấp cũ, bị Mã Viện xâm lược, thì đã có một lực lượng từ phía Quảng Nam tiến ra cầm quyền, đóng đô ven biển. Lâm Ấp bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thời kỳ này, một phần cũng nhờ giai đoạn Lục triều chiến tranh liên miên ở Trung Quốc. Tiến trình song song là sự tiếp biến về ngôn ngữ ở những khu vực năng động dọc tuyến giao thương ven biển, các thành phương ngữ được hình thành, trong đó ngôn ngữ ở khu vực Lâm Ấp cũ, vùng đồng bằng Bắc Bộ, là chủ đạo vì đó là trung tâm lớn nhất. Vương triều Lâm Ấp vốn chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, nhưng khi ra phía bắc đã tiếp thu nhiều yếu tố Trung Quốc, do tác động từ mối giao thương chắt chẽ và những thành tựu mà người Trung Quốc đạt được. Chữ Hán vì vậy được phổ biến. Tuy nhiên, do những va chạm thường xuyên nên vương triều này đã cảnh giác với sự Hán hóa, vì vậy đã tạo ra một lớp ngăn người dân biết chữ Hán nói được tiếng Hán, bằng cách tạo ra cách đọc Hán Việt. Cũng chính vương triều này tạo ra chữ Nôm, mà Nôm tức là chữ Nam theo phương ngữ của họ.

Sau khi bị đánh bại ở vùng đồng bằng phía bắt thì vương triều này lại rút về Quảng Nam. Nhà Đường về sau hiểu được nội tình nên gọi là Hoàn Vương, có lẽ đây cũng là một thông điệp chính trị của triều đình Trung Quốc.

Kiến giải này sẽ vấp phải sự phản đối của những người cho rằng người nước Hoàn Vương, và Chiêm Thành sau này đều nói tiếng Chăm chứ không thể nào là phương ngữ Quảng Nam của tiếng Việt.

Thực tế thì chúng ta có chứng cứ là dân cư ven biển ở phía nam núi Thạch Bi, nơi này có vài tiểu quốc của Chiêm Thành còn tồn tại sau cuộc thôn tính của Lê Thánh Tông năm 1471, nói tiếng Chăm, tuy nhiên đó không phải là vùng trung tâm Chiêm Thành, lại có những giai đoạn thì thuộc về Chân Lạp và có thể trước đó là Phù Nam. Điều này không đủ để nói rằng vùng trung tâm Chiêm Thành nói cùng thứ tiếng đó.

Thế còn việc chứng minh người Chiêm Thành nói một phương ngữ của tiếng Việt, tức là như tiếng Quảng Nam, Bình Định bây giờ, thì sao? Chúng ta hãy thử xem xét từ góc độ một số ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư về quan hệ giữa người Việt và người Chiêm Thành.

Năm 979 phò mã Ngô Nhật Khánh cầu viện người Chiêm Thành đánh thành Hoa Lư để dựng lại nhà Ngô.

Năm 989 Dương Tiến Lộc đem hai châu Hoan, Ái xin quy phụ Chiêm Thành.

Năm 905 hoàng tử Đông Thành Vương Lê Long Tích thua chạy cũng tìm cách sang Chiêm Thành.

Năm 1046 Lý Thái Tông sai dựng cung riêng cho phụ nữ Chiêm Thành ở.

Năm 1202 Vua nước Chiêm Thành là Bố Trì bị chú là Văn Bố Điền đuổi, nay đem cả vợ con đến ngụ ở cửa biển Cơ La, ý muốn cầu cứu.

Một thủ lĩnh cát cứ cuối thời Lý, đầu thời Trần là Nguyễn Nộn đã thu nhận một người Chiêm Thành là Phan Ma Lôi làm trợ thủ đắc lực. Ma Lôi dụng binh như thần. Năm 1229 khi Nguyễn Nộn chết thì Ma Lôi bỏ trốn, nhà Trần mới thống nhất thiên hạ.

Khi có chiến tranh Đại Việt – Chiêm Thành vào năm 1390, thì “Bấy giờ, người Nghệ An vốn ở hai lòng, còn Tân Bình, Thuận Hóa thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành”

Năm 1448, người Chiêm Thành là Phan Mỗ dẫn hơn 340 đàn ông đàn bà sang hàng, xuống chiếu chia cho ở các đạo.

Năm 1472, Cấm quan viên và dân chúng không được lén lút chứa giấu người Chiêm Thành

Năm 1499, xuống chiếu: “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”

Năm 1509, sai giết các nữ sử nội thần người Chiêm

Các chi tiết trên cho thấy mức độ tương tác giữa hai bên khá mạnh, kể cả trong những tầng lớp bình dân ít học. Điều này rất khó xảy ra nếu rào cản ngôn ngữ là lớn, như giữa tiếng Việt và tiếng Chăm.

Chúng ta cũng có thể thấy là từ năm 1471 đến năm 1653 người Việt không lấn qua núi Thạch Bi. Cách giải thích hợp lý nhất là do khác biệt ngôn ngữ nên phía người Việt không thực sự quyết tâm lấn chiếm, mà họ chỉ thực hiện khi có điều kiện dễ dàng. Phía bắc núi Thạch Bi thì nói phương ngữ của tiếng Việt, không quá khác biệt, nên triều đình Đại Việt hầu như không ngừng tìm cách thôn tính.

Tóm lại, trên ý kiến chủ quan của người viết thì chúng ta có cơ sở để giải thích về vấn đề chữ Nôm và vấn đề phương ngữ Quảng Nam, khai thông những bế tắc hiện nay trên khía cạnh học thuật, đồng thời đưa đến cách nhìn mới về lịch sử nước Việt Nam. Mong nhận được sự phản biện của các bạn quan tâm.



Wednesday, July 20, 2022

Vấn đề của quan niệm lấy phương bắc làm nơi khởi nguồn của dân tộc

 Các sách lịch sử của Việt Nam trước đây vẫn chép rằng nhà Tần bắt đầu xâm chiếm Lĩnh Nam từ năm 217TCN, sau đó lập thành ba quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận, tương ứng với Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam về sau. Lại đưa 50 vạn người xuống định cư.

Năm 1916, Henry Maspero, một học giả người Pháp chuyên nghiên cứu về Trung Quốc và Việt Nam, đã có bài viết “la commanderie de Siang” trên tập san của Viện Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO). Ông dựa vào nhiều chứng cứ để xác định lại vị trí của Tượng quận. Theo đó thì Tượng quận ở phía Quảng Tây Trung Quốc. Tức là cả vùng đất Lĩnh Nam mà nhà Tần chiếm được đều ở bên Lưỡng Quảng chứ không hề sang tới Việt Nam. Ông cũng chỉ ra rằng khởi nguồn của nhận thức sai lầm về Tượng quận suốt nhiều thế kỷ là từ chủ ý của Đỗ Hựu, một chính trị gia kiêm sử gia thời nhà Đường. Ngày nay thì những kết quả của Henry Maspero đã được chứng tỏ là đúng. Ở Trung Quốc, giới sử học đã chính thức nhìn nhận lại về Tượng quận. Ở Việt Nam, các sách giáo trình lịch sử đã lặng lẽ bỏ nội dung nêu trên.

Đương thời, ý kiến của Henry Maspero không được các học giả Việt Nam tiếp thu tích cực. Nguyễn Văn Tố, một học giả nổi tiếng đương thời, có một bài phản luận, tuy đầy cố gắng nhưng kém thuyết phục (1). Trần Trọng Kim, tác giả bộ sách Việt Nam sử lược có nhiều ảnh hưởng, không hề tiếp thu sửa chữa gì. Sách vở của các tác giả khác hầu như vẫn giữ quan điểm cũ. Điều đó phản ánh sự bảo thủ cố chấp, thiếu dũng cảm, thiếu tinh thần khoa học của tầng lớp trí thức Việt Nam nói chung.

Con số 50 vạn người xuống Lĩnh Nam từ thời Tần Thủy Hoàng hẳn đã góp phần tạo ra định kiến về nguồn gốc của người Việt Nam. Tôi đã không ít lần được biết đến những thảo luận như thế.

Sau đây, xin lấy một số dẫn chứng từ các cuốn sách lịch sử.

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết: "Dẫu người mình thuộc chủng loại nào mặc lòng, về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh, thì chắc là nòi giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi, mới thành ra người Việt-Nam ngày nay" (2).

Như vậy, một trong hai cơ sở để Trần Trọng Kim nhận định người Việt Nam lai Tàu hẳn là việc Tần Thủy Hoàng chuyển 50 vạn người xuống phương nam, mà có lẽ ông đã tự trừ hao đi mười vạn ở Nam Hải và Quế Lâm. Như thảo luận ở phần trên, cơ sở này đã bị bác bỏ.

Nếu xem xét thêm những tác giả khác, viết trong thời cận đại, thì có thể coi Trần Trọng Kim là đã có ý nói giảm nói tránh.

Hoàng Cao Khải, sách Việt sử yếu, sau khi đưa một số ý kiến và lập luận riêng của mình, đã chốt lại: "Do đó, chúng ta biết được dân tộc Việt Nam nguyên là Hán tộc, không còn nghi ngờ gì nữa" (3)

Nguyễn Thông, sách Việt sử thông giám cương mục khảo lược, chép: "Khi nhà Tần mở mang đất Ngũ Lĩnh, nhà Hán đặt thú lệnh, qua Đường đến Tống có hơn nghìn năm […] Đây là khí đất từ Bắc sang Nam, giống này lớn lên thì giống kia tiêu diệt, cũng là cái vận tự nhiên đấy. Thế thì nước Việt ta, đất dù là nước cũ của Hùng Lạc, mà người là dòng dõi khăn đai, từ lâu lắm rồi" (4).

Đại Nam thực lục, bộ chính sử lớn thời nhà Nguyễn, gọi thẳng dân ta là Hán nhân ( 漢人)

Đại Việt sử ký toàn thư, bộ chính sử thời nhà Lê, là bộ sử đầu tiên chép về Kỷ Hồng Bàng Thị. Theo đó, vua Hùng và những người anh em cùng tạo ra dòng giống Việt là hậu duệ của Viêm đế Thần nông của Trung Hoa. Dòng ngoại là người phương nam, nhưng phương nam đó ở hồ Động Đình, phía bắc Ngũ Lĩnh, cách nước ta rất xa.

Những mặc nhận trong sử sách tạo nên, và có khoảng cách không xa, so với diễn đạt nôm na từng khá phổ biến trong xã hội, rằng ta là Tàu, hay thậm chí là Tàu dạt.

Yếu tố nguồn gốc dòng giống thường bị lợi dụng để phục vụ các mục đích chính trị, đặc biệt là trong các xã hội còn nặng ảnh hưởng của Nho giáo như xã hội ta. Đó là một thực tế không thể phủ nhận và không nên né tránh.

Tôi vừa nói đến nhận thức sai lầm về Tượng quận. Bây giờ xin thảo luận về định kiến Nghìn năm Bắc thuộc, một cơ sở khác cũng chi phối nhận thức của người Việt về vấn đề nguồn gốc, như đã nêu trường hợpTrần Trọng Kim.

Sử sách của các triều đình Trung Quốc từ thời nhà Đường trở về sau thường gán Giao Chỉ đời trước vào An Nam, tức là coi An Nam vốn là vùng đất của người Lạc Việt. Sử sách ở Việt Nam, ra đời muộn hơn, dựa rất nhiều trên những nguồn tư liệu này.

Tuy nhiên có nhiều tài liệu cá nhân đã ghi nhận khác.

Khuất Đại Quân, một học giả người Quảng Đông, từng được xếp vào Lĩnh Nam tam đại gia, được Lê Quý Đôn trích rất nhiều, chẳng hạn Vân Đài loại ngữ, quyển 3 - Khu vũ ngữ - điều 48 và 72 có các đoạn như sau: "Ta xem mạch núi Giao Chỉ phát từ Quý Châu mà Quý Châu là miền cuối các sông, núi ở đó đều từ Ba Thục chạy tới; đại khái long mạch chạy qua như muôn vàn đợt sóng, nhảy nhót không ngừng, thẳng đến Giao Châu mới kết thành đất nước. Vân Nam là cửa sau, Quảng Tây là cửa trước, mà cõi đông là Quảng Châu và Khâm Châu...", "Vậy thời Giao Chỉ ở về phía hữu Quảng Đông, mạch Vân Nam, Quý Châu phát ở đó, đủ biết Giao Chỉ là thượng du, cho nên các con ngọn sông ở Quảng Tây đều phát nguyên ở Giao Chỉ, xuống Thương Ngô, rồi chảy ra biển Nam Hải". Theo dấu hiệu địa lý này thì Giao Chỉ ở phía Lưỡng Quảng chứ không thể là Việt Nam được. Lại chép: "Đất Giao Chỉ có 17 quận, 49 châu, 157 huyện. Mỗi năm nộp thóc cho quan tư nông hơn một nghìn ba trăm sáu mươi vạn hộc. Tính ra tất cả thuế các châu Mân, Quảng, Điền, Kiềm cũng không bằng". Như vậy, có một xứ Giao Chỉ, cùng với Mân, Quảng, Điền, Kiềm, tất cả phải là những địa phương của Trung Quốc chứ không thể là ngoại quốc được. Theo cách xác định này thì có thể hiểu là Kiềm và Giao Chỉ chia nhau hai phần của Quảng Tây.

Cố Viêm Vũ, một học giả nổi tiếng đời Thanh viết trong sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư rằng người Choang là người Việt xưa. Người Choang tập trung ở Quảng Tây. Nhận xét này phù hợp với nhận thức của Khuất Đại Quân về địa bàn Giao Chỉ.

Thực tế ở Lưỡng Quảng từng có khá nhiều đền thờ Trưng Vương. Nguyễn Thiên Túng, một vị văn quan cùng thời với Nguyễn Trãi, có đề bài thơ “Đề Khâm Châu Trưng nữ tướng” miếu khi đi sứ ngang qua Hợp Phố.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng có chép ở phần đầu Kỷ thuộc Đông Hán là: Thổ nhân ai mộ Trưng Nữ Vương lập từ phụng sự chi [Từ tại Phúc Lộc huyện, Hát Giang xã, Phiên Ngung cựu địa thành diệc hữu chi], tức là: Thổ nhân thương mến Trưng nữ Vương, làm đền thờ (đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có đền).

Ngoài ra ở Hoành Châu, thuộc khu Nam Ninh đã có đền thờ Mã Viện từ lâu đời, của người Hán lập để ghi công Mã Viện bình định Giao Chỉ. Lê Quý Đôn trên đường đi sứ về có ghé viếng và chép lại cụ thể trong tác phẩm Bắc sứ thông lục.

Nếu theo quan điểm Giao Chỉ là An Nam, thành Liên Lâu trên đất Giao Chỉ từng là thủ phủ của toàn cõi Lĩnh Nam thì lộ rõ một điều vô lý. Nhà cầm quyền phương bắc không thể nào đặt một trị sở xuống tận phía này để quản lý Lưỡng Quảng, một khu vực vừa lớn hơn lại gần hơn rất nhiều. Nếu Giao Chỉ ở khu vực Quảng Tây, như xác định của Khuất Đại Quân, thì lại hợp lý.

Các sử liệu Trung Quốc trước thời Đường thì để lộ những mâu thuẫn về vị trí địa lý

Tôi đã có một bài phân tích Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử.

Bài viết chỉ ra rằng các quận huyện của Giao Châu chủ yếu ở bên phía Lưỡng Quảng. Xem bản đồ:

Bài viết cũng chỉ ra rằng người sửa chữa hệ thống sách vở để gây nên sự ngộ nhận Giao Chỉ ở An Nam cũng chính là Đỗ Hựu.

Ông ta không chỉ mạo gán Tượng quận với Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam mà còn mạo gán cả ba quận này, tức là Giao Châu, xuống phía Việt Nam. Như vậy, sử sách về sau đã nhầm lẫn, lấy lịch sử Giao Châu ở Lưỡng Quảng gán thành lịch sử xảy ra trên địa bàn Việt Nam. Phía nam của Giao Châu là nước Lâm Ấp, lại chính trên địa bàn nước ta.

Nước Lâm Ấp bị chiếm đóng từ sau khi Mã Viện đánh dẹp Giao Chỉ. Đến cuối đời Hán thì dành độc lập. Lâm Ấp tồn tại qua giai đoạn Lục triều ở Trung Quốc, đến năm 604-605 lại bị nhà Tùy chiếm đóng, nhà Đường tiếp tục cai trị ở vùng chủ yếu là đồng bằng. Khu vực miền núi từ phía Tây Bắc kéo dài xuống phía nam tồn tại độc lập, dưới tên mới là Hoàn Vương rồi Chiêm Thành.

Rất có thể hệ thống từ Hán Việt mà ngày nay chúng ta rất quen thuộc chính là sản phẩm của chính sách tiếp thu có tính chủ động của triều đại Lâm Ấp trong giai đoạn tự chủ. Sự chủ động này tương tự như ở Triều Tiên và Nhật Bản, nếu trong hoàn cảnh bị đô hộ thì không thể xảy ra. Một điểm nữa là người ta đã phát hiện ra rất nhiều mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại tương ứng với thời Lục triều của Trung Quốc, ở khu vực Bắc Ninh, chứng tỏ khu vực bản địa thời kỳ này có sự tự do sản xuất trống đồng, khó có thể là nơi trị sở của chế độ cai trị phương bắc. Một điểm nữa, là ngay cả hệ thống rất nhiều mộ gạch ở miền bắc, mà người ta vẫn coi là mộ Hán, thì vẫn có những đặc điểm riêng chứ không hoàn toàn giống mộ Hán. Trong số đó lại có những ngôi mộ rất lớn, phải là của những nhân vật rất đặc biệt trong xã hội, không thể là của thường dân hoặc của quan lại nhỏ Trung Quốc sang.

Vùng Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ trước khi người Trung Quốc tiến xuống phía nam. Tiếng Sankrrt và tiếng Pali, tức là Bắc Phạn và Nam Phạn, đã được biết là sớm phổ biến ở Đông Nam Á.

Chữ viết chính thức của Lâm Ấp là chữ Hồ, tức là chữ Phạn, như ghi nhận trong bộ Tấn thư của Trung Quốc.

Các vua Lâm Ấp được gọi là Phạm Hùng. Phạm/ Phạn (梵) có thể là chữ phiên âm của chữ saṃskṛtā trong tiếng Sanskrt, nghĩa là thuộc về cõi trên. Hùng ( 雄), theo một giả thuyết của Trần Quốc Vượng, có thể là biến âm từ chữ Guru trong tiếng Pali, một nhánh khác của tiếng Phạn, có nghĩa là bậc đạo sư. Nói tóm lại, Phạm Hùng không phải là họ tên theo người Hán mà là phiên âm Hán của nhân vật có thể là thủ lĩnh tối cao trong mô hình Mandala của Lâm Ấp. Chúng ta cũng có thể để ý rằng cách gọi tên vua Hùng thứ nhất,..., thứ 18, là theo văn hóa của khối Ấn Độ chứ không phải theo Trung Quốc. Tùy thư cho biết triều đại này tồn tại 18 đời trước khi bị nhà Tùy diệt.

Thời Hùng Vương cũng từng được người Trung Quốc thời Đường ghi nhận. Trong bài thơ Biệt Lý Minh Phủ của Hàn Hồng, thời nhà Đương, mà nhà nghiên cứu Phan Anh Dũng sưu tầm được có câu: “Xuất nhập châu cung dẫn tiêu cổ/ Túy vũ Hung Vương đồi mồi sàng” có nghĩa là: Ra vào cung ngọc châu có kèn trống đưa dẫn/ Khi say nhảy lên giường đồi mồi của Hùng Vương mà múa. Rõ ràng thời Hùng Vương không thể cách đó cả nghìn năm.

Mặc dù sự tồn tại của dân tộc Văn Lang vẫn được ghi nhận trong Lâm Ấp ký, được Thủy Kinh chú chép lại (5), hoặc các sách Thông điển của Đỗ Hựu và Thái Binh hoàn vũ ký của Nhạc Sử đều có nhắc đến Phong Châu của người Văn Lang, thế nhưng huyền sử Hồng Bàng thị lại là câu chuyện được sử gia chắp vá từ ý tưởng của chuyện Liễu Nghị, được sáng tác thời nhà Đường, thành Kinh Dương Vương, như Ngô Sĩ Liên ngầm thừa nhận (6). Lại gán các Lạc Vương ở Lĩnh Nam thành Hùng Vương ở nước ta. Một câu chuyện vô lý về mọi mặt.

Như vậy, lịch sử xảy ra trên đất nước chúng ta từ cuối thiên niên kỉ thứ nhất trở về trước đã bị nhận thức sai lầm. Cả hai yếu tố quyết định đến việc nhìn nhận nguồn gốc người Việt, là vị trí Tượng quận và khái niệm nghìn năm Bắc thuộc đều bị ngộ nhận. Thực tế, các ngành khoa học mới như Sinh học di truyền, ngôn ngữ học, khảo cổ học... đã cùng chỉ ra những khác biệt giữa hai dân tộc. Khoảng cách đó đủ xa để coi việc nhìn nhận chúng ta là người Hán là một sự ngộ nhận. Sự ngộ nhận này vẫn tồn tại ở nhiều tầng lớp và khó có thể coi là vấn đề nhỏ.

Mặc dù thực tế vẫn có một số dòng họ ở Việt Nam có một cụ tổ từ bên Trung Quốc sang nhưng qua nhiều thế hệ con cháu đã là người Việt Nam chứ không phải người Hán, xét trên mọi yếu tố. Một số trường hợp khác, có thể do ngộ nhận rằng người Việt Nam là người Hán nên những người soạn gia phả, thường là không quá xa thời đại ngày nay, nhận bừa tổ tiên là một nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc có liên quan đến phương nam, vì cùng họ. Thực tế, tên gọi các họ ở Việt Nam ban đầu có thể chỉ là do nhà cai trị quyết định, gán vào những cá nhân để tiện quản lý.


Chúng ta có nên nhìn nhận lại lịch sử?

Tôi cho rằng con người càng tiến vào thời đại văn minh khoa học thì càng khó chấp nhận những sự phi lý. Do đó động cơ đi tìm sự thật của cộng đồng sẽ ngày càng mạnh mẽ, không thể ngăn cản được. Các vấn đề sử học này không còn chủ yếu dành riêng cho các triều đình hai bên, mà đã được đại chúng hóa, quốc tế hóa. Cộng với những thành tựu khoa học trong mọi lĩnh vực, thì những bí ẩn và dối trá sẽ dần dần bị phơi bày công khai, khó mà che dấu.

Có thể đó là lý do mà người Trung Quốc nhìn nhận lại về Tượng quận, theo hướng phủ nhận Tượng quận ở Việt Nam. Những năm gần đây họ đang có xu hướng ủng hộ cộng đồng người Choang ở Quảng Tây nhìn nhận lại tổ tiên Lạc Việt. Như vậy là đã hình thành một sự tranh chấp về tổ tiên giữa người Choang ở Quảng Tây và người Việt Nam.

Rất có thể các triều đình Trung Quốc chưa bao giờ mất ý thức về sự thật lịch sử trong vấn đề này. Các tài liệu cổ sử quan trọng về khu vực Lĩnh Nam có thể vẫn còn, mà họ giấu biệt đi. Vùng Quảng Tây vốn rất mờ nhạt trong lịch sử, là vì lịch sử của nó đã bị lấy để gán vào phía Việt Nam. Tuy vậy chứng cứ phản bác cách gán ghép đó không hề thiếu, ngay trong các tài liệu công khai, chỉ là chúng ta không muốn nhìn nhận. Họ vẫn nắm lợi thế cả về chứng cứ lẫn tính logic của vấn đề. Tóm lại, với cuộc tranh chấp về tổ tiên này thì người Việt Nam kém hẳn lý lẽ.

Người Trung Quốc đã nhìn xa và họ sẽ lại có ưu thế trong cuộc chiến biến chúng ta thành một cộng đồng mơ hồ về nguồn gốc nếu chúng ta không đủ can đảm để xét lại lịch sử, nhìn nhận sự thật trên chính địa bàn của mình.

Sự mơ hồ lại là môi trường tốt cho một thuyết gây được khá nhiều ảnh hưởng gần đây, đó là người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ vốn là người từ Trung Quốc đến, chủ yếu từ thời Tùy Đường trở về sau, trước đó vùng đất này còn lầy lội, người bản địa rất ít. Việc mở rộng liên tục của đồng bằng Bắc Bộ đã được coi là cơ sở để nói rằng trước đây vài ngàn năm thì vùng đất này hầu như chưa có gì. Điều này đã được chứng minh là hoàn toàn không đúng.

Chứng minh căn cước của dân tộc không chỉ giúp cho dân chúng trong nước tự tin hơn, bên ngoài rõ hơn, mà còn bác bỏ cách tuyên truyền, cách phát ngôn của người Trung Quốc khi họ kêu gọi chúng ta "lãng tử hồi đầu", nghĩa là đứa con lang thang hãy quay về. Một quốc gia độc lập và phát triển thì luôn cần sự tôn trọng của những quốc gia khác.


Chú thích:

  1. Nguyễn Văn Tố, Đại Nam dật sử & Sử ta so với sử Tàu, nxb Khoa học xã hội, 2019, trang 377-388
  2. Trần Trọng Kim, 1919, Việt Nam sử lược, phần mở đầu: Nước Việt Nam, mục 5: Gốc tích
  3. Hoàng Cao Khải, 1914, Việt sử yếu, quyển thứ nhất, mục: Nhân chủng
  4. Nguyễn Thông, 1877, Việt sử thông giám cương mục khảo lược, quyển 1 – Tiền biên
  5. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên (chú), Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh (sớ), Nguyễn Bá Mão (dịch), Nxb Thuận Hóa, 2005, trang 373
  6. Đại Việt sử ký toàn thư, phần Kinh Dương Vương

Thursday, June 30, 2022

Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành và những khuất khúc của lịch sử Việt Nam

 


Khu vực Làng Vạc, một di chỉ lớn của người Việt cổ

Qua các bài viết trước, tôi đã chỉ ra vị trí các thành Điển Xung và Khu Túc của nước Lâm Ấp.

Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử.

Xác định vị trí kinh thành Điển Xung của nước Lâm Ấp


Sử sách Trung Quốc ghi nhận nhiều cuộc xung đột với Lâm Ấp trong giai đoạn mà ngày nay gọi là Lục triều (220-589). Đây là giai đoạn nội bộ Trung Quốc bị phân liệt, nội chiến liên tục, nên họ không đủ sức cai trị Lâm Ấp, dù đã từng tiến vào phá hủy kinh thành Điển Xung.

Nhà Tùy sau khi thống nhất Trung Quốc, đã phát động một cuộc xâm lược do Lưu Phương cầm đầu, vào năm 604-605, và chia khu vực chiếm được thành ba quận. Nhà Đường thay thế nhà Tùy vào năm 618, tiếp tục cai trị cho đến năm 905. Đó là mảnh đất mà họ từng đặt tên là An Nam đô hộ phủ. Vua Lâm Ấp là Phạm Chí bỏ chạy, dựng thành ấp ở nơi khác.

Theo bộ Tân Đường thư, quyển 222, sau niên hiệu Chí Đức nhà Đường (756-758), Lâm Ấp đổi quốc hiệu là Hoàn Vương. Tân Đường thư cũng cho biết Hoàn Vương cũng gọi là Chiêm Bất Lao, hay là Chiêm Bà.

Cựu Đường thư, quyển 197, cho biết Lâm Ấp phía bắc giáp Hoan Châu. Tân Ngũ đại sử, quyển 74, cho biết Chiêm Thành phía đông tới biển, phía tây tới Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc tới Hoan Châu. Tống sử, quyển 489, cho biết Chiêm Thành phía đông tới biển, phía tây tới Vân Nam, phía nam đến nước Chân Lạp, phía bắc tới địa giới Hoan Châu. Phía nam gọi là châu Thi Bị, phía tây gọi là châu Thượng Nguyên, phía bắc gọi là châu Ô Lý. Tân Đường thư, quyển 43 hạ ghi [Trần Trọng Dương dịch]: “Đạo Lĩnh Nam: Một đường từ phía đông Hoan Châu đi hai ngày, đến huyện An Viễn của châu Đường Lâm, đi về phía nam qua sông Cổ La, đi hai ngày đến sông Đàn Động của nước Hoàn Vương. Lại đi bốn ngày đến Chu Nhai. Lại đi hai ngày qua Đan Bổ Trấn, đi hai ngày đến thành nước Hoàn Vương, thời Hán xưa gọi là đất Nhật Nam vậy”.

Điều khó giải thích là tại sao phía bắc Lâm Ấp giáp Hoan Châu, vùng đất được cho là Nghệ An – Hà Tĩnh sau này, mà phía tây lại có thể giáp với Vân Nam, một khu vực rất xa về phía tây bắc. 

Theo cách ghi nhận của Tống sử thì có thể hiểu Hoan Châu và Vân Nam là các địa phương của Trung Quốc chứ không phải là ngoại quốc như Chân Lạp. Giao Chỉ cũng được Tống sử chép là ngoại quốc. Đây là một cơ sở để cho rằng Hoan Châu này không phải là Hoan Châu vùng Nghệ Tĩnh.

 Nếu Hoan Châu trong các trường hợp nói trên là vùng Nghệ Tĩnh sau này, thì có nghĩa là châu Đường Lâm phải ở về phía nam của Nghệ Tĩnh chứ không phải từ phía Sơn Tây ngược lên vùng Tây Bắc. Điều đó cũng có nghĩa là quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền rất có thể không phải ở Đường Lâm Sơn Tây, mà đó chỉ là kết quả của những ghi chép sai lạc. Tuy nhiên vị trí của Đường Lâm Sơn Tây là không thể bác bỏ được, dù một số nhà nghiên cứu cũng đã có những nỗ lực thực hiện. Bạn đọc quan tâm có thể xem thêm bài này: Vấn đề vị trí châu Đường Lâm.

Vậy thì có thể xác định Hoan Châu này ở khu vực tây nam Quảng Tây, kề với Vân Nam. Góc phía tây nam nay là Châu tự trị dân tộc Choang Văn Sơn của Vân Nam ngày nay, diện tích tương đương với khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam, giáp với Hà Giang và Lào Cai. Xét về yếu tố dân tộc có thể thấy mối gần gũi với người bản địa của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, vì vậy rất có thể Hoan Châu bao trùm cả châu Văn Sơn. Hoan Châu vốn được lập trên cơ sở huyện Hàm Hoan của Cửu Chân đời Hán. Trong bài viết Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử. tôi đã giải quyết vấn đề vị trí quận huyện của Giao Châu đời Hán. Theo đó, quận Cửu Chân đời Hán và Lục triều của Trung Quốc thực ra không ở vùng nay là Bắc Trung Bộ Việt Nam, mà là ở về phía tây của khu vực Quảng Tây Trung Quốc. Về sau mới có việc đặt trùng tên, rồi gán ghép vào phía Việt Nam, khiến sử sách cứ nối tiếp nhau nhầm lẫn.

Huyện Hàm Hoan đời Hán được xác định là nằm về phía nam của sông Hữu Giang (You Jiang). Xin xem hình dưới đây:



Vị trí các quận huyện của Giao Châu thời Hán

Với quy mô của một châu, ắt hẳn Hoan Châu đã mở rộng thêm nhiều, lấn sang cả địa bàn Vân Nam ngày nay, giáp với miền núi từ Cao Bằng trở về phía tây của Việt Nam.

Với vị trí của Hoan Châu và Đường Lâm đã tương đối được xác định, thì con đường đi theo mô tả của Tân Đường thư có thể là từ phía bắc Cao Bằng đi xuống, đến gần khu vực giáp giới giữa Lào Cai và Yên Bái, rồi đi về phía nam. Dựa trên quãng thời gian thì điểm cuối là thành nước Hoàn Vương có thể ở khoảng vùng núi từ Thanh Hóa đến Nghệ An.

Như vậy, ghi nhận về nước Hoàn Vương ở đây đã cho thấy cương vực nước Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành ở thời điểm khoảng thế kỷ 10, khi những cuốn sách trên được viết, không chỉ ở phía nam Hà Tĩnh mà thực tế còn kéo dài theo phía đường núi ra đến khu vực Tây Bắc Việt Nam. Với địa bàn trải dài như vậy thì đây phải là một quốc gia nhiều dân tộc.

Ghi nhận về nước Hoàn Vương cho thấy triều đình Trung Quốc chỉ quản lý được các khu vực gồm phía đông Bắc Bộ và vùng đồng bằng ở Thanh Nghệ. Đó chính là An Nam. Nước Lâm Ấp - Hoàn Vương giữ được phía nam và miền núi phía tây, có thể với mô hình nhiều tiểu quốc, đến khi An Nam giành được độc lập, lại không thống nhất được với Hoàn Vương, có thể lý do là dân cư hai khu vực đã bị phân hóa mạnh.

An Nam vào giữa thế kỷ 10, theo phân bổ vị trí của 12 sứ quân, như sau:

  1. Ngô Xương Xí, tức Ngô Sứ Quân giữ Bình Kiều
  2. Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (nay là khu vực Việt Trì)
  3. Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (nay là khu vực Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)
  4. Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (nay là khu vực Sơn Tây, Hà Nội)
  5. Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (nay là khu vực Thanh Oai, Hà Nội)
  6. Lý Khuê giữ Siêu Loại (nay là khu vực Thuận Thành, Bắc Ninh)
  7. Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay)
  8. Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Lang, Hưng Yên)
  9. Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)
  10. Kiều Thuận giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ)
  11. Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
  12. Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (Thái Bình)

Vị trí của Bình Kiều hiện vẫn chưa được nhận định thống nhất là ở Khoái Châu, Hưng Yên hay là Bình Kiều ở Triệu Sơn, Thanh Hóa, nhưng dù sao thì chúng ta cũng có thể thấy An Nam được nói tới thời giữa thế kỷ 10 chủ yếu quanh đồng bằng Bắc Bộ. Đến tận đầu thời Lê cũng chỉ có khu vực này được coi là nội trấn. Người man ở đất Cử Long, suốt hai triều Đinh Lê đều không dẹp được. Theo chú giải trong sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Cử Long ở huyện Cẩm Thủy Thanh Hóa. Khoảng cách theo đường thẳng từ Hoa Lư đến huyện lị Phụng Sơn của huyện Cẩm Thủy chỉ 50km. Chứng tỏ rằng các nhà nước và diễn biến lịch sử được ghi nhận trong thời kỳ này trên thực tế chỉ là của người vùng xuôi, mà chủ yếu quanh đồng bằng Bắc Bộ. Đó là địa bàn của người Kinh.

Đại Việt sử ký toàn thư cung cấp nhiều chi tiết cho thấy triều đình nhà Lê và nhà Lý vẫn khá vất vả với các châu Hoan, Ái, Diễn:

  • Năm 989, dưới thời Lê Hoàn: “Dương Tiến Lộc lấy hai châu Hoan, Ái làm phản. Vua thân đi đánh, Tiến Lộc bị giết. Bấy giờ vua sai viên Quảng giáp là Tiến Lộc đi thu thuế hai châu Hoan và Ái, Tiến Lộc đem người hai châu ấy xin theo về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận. Vua nghe tin, đem các quân đến đánh Châu Hoan, Châu Ái, đuổi bắt được Tiến Lộc và giết người hai châu ấy không biết bao nhiêu mà kể”.
  • Năm 1008 Lê Long Đĩnh tự làm tướng đi đánh Hoan Châu
  • Năm 1011 Lý Thái Tổ đánh Cử Long. Đến đây mới thu phục được.
  • Năm 1012, Lý Thái Tổ thân đi đánh Diễn Châu, vì cho rằng “Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa…”
  • Năm 1026 Lý Thái Tổ lại xuống chiếu cho Khai Thiên Vương “đi đánh giặc ở Châu Diễn”
  • Năm 1031: “Mùa xuân, tháng giêng, châu Hoan làm phản”.
  • Năm 1035: “Người châu Ái làm phản. Mùa đông, tháng 10, vua thân đi đánh, cho Phụng Càn Vương lưu thủ Kinh sư”
  • Năm 1043: “Mùa xuân, tháng giêng, châu Ái làm phản” 
  • Theo thần tích đền Quả Sơn, người Chiêm Thành đã gây ra cái chết của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, ở miền trung du Nghệ An, vào năm 1057.

 Sự kiện năm 989 còn cho thấy ảnh hưởng của yếu tố Chiêm Thành. Theo Tống sử – quyển 489: Năm Thuần Hóa nguyên niên (990) vua mới là Dương Đà Bài, ở thành Phật Thệ, sai sứ sang cống, cùng dâng biểu tố rằng bị Giao Châu đánh, nhân dân và của cải trong nước đều bị cướp đi. Toàn thư không chép về sự kiện Lê Hoàn đánh Chiêm Thành này, nhưng xét theo thời gian thì hẳn là trùng với sự kiện đánh hai châu Hoan, Ái năm 989, bởi vì sứ giả sang đến kinh đô nhà Tống có thể phải trễ một năm. Châu Ái kề với Hoa Lư, khó có khả năng dân ở đây lại theo nước Chiêm Thành nếu nước này ở rất xa về phía nam. Vậy hẳn là Toàn thư vì lý do nào đó đã chép không đúng. Có thể ở về vùng núi phía tây Hoan, Ái vẫn là Chiêm Thành, hai châu này là nơi tranh giành ảnh hưởng giữa An Nam và Chiêm Thành.

Toàn thư chép về Lê Hoàn: “Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hoà, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây đào xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”.

Xét vị trí núi Đồng Cổ, nếu vua Lê Hoàn đi đánh Chiêm Thành ở phía nam bằng đường biển qua cửa sông Bà Hòa ở Tĩnh Gia – Thanh Hóa thì chẳng có lý do gì phải vòng vào núi Đồng Cổ ở sâu phía trong nội địa. Vậy thì đó là hai con đường khác nhau, từ Đồng Cổ đi sâu vào miền núi cũng là đất Chiêm Thành.

Vị trí đền Đồng Cổ

Hành trình đi đường biển đánh Chiêm Thành của Lý Thái Tông năm Giáp Thân (1044) được Đại Việt sử ký toàn thư cho biết như sau:

“Ngày Giáp Thìn, quân đi từ Kinh sư, ngày Ất Tỵ, đến cửa biển Đại Ác, gặp lúc sóng gió yên lặng, đại quân qua biển dễ dàng, cho nên đổi tên Đại Ác làm Đại An. Đến núi Ma Cô, có đám mây tía bọc lấy mặt trời. Qua vụng Hà Não, có đám mây che thuyền ngự, thoe thuyền mà đi hoặc ngừng. Ngày hôm ấy đến đóng doanh ở cửa biển Trụ Nha (có bản chép Trụ Thân). Ngày hôm sau đi, nhờ thuận gió, trong một ngày qua hai bãi Đại Tiểu Trường Sa. Đến cửa biển Tư Khách có con cá trắng nhảy vào thuyền. Vua nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ muốn chống cự quan quân. Vua truyền cho quân bỏ thuyền lên bộ, đem quân sĩ lên bờ bắc, thấy quân Chiêm đã dàn ở bên sông. Vua mới cắt đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông đánh. Binh lính chưa chạm mà quân Chiêm đã tan vỡ, quan quân đuổi chém được 3 vạn thủ cấp. Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận đem dâng”.

Theo nội dung trên thì thời gian di chuyển của quân đội Lý Thái Tông khá ngắn. Từ kinh thành ra đến vùng cửa biển mất một ngày. Từ cửa biển Đại An đến cửa Tư Khách mất hai ngày. Đến đó là đã chuẩn bị đánh nhau với Chiêm Thành. Hành trình này chỉ có thể đến phía nam Thanh Hóa hoặc Nghệ An mà thôi. 

Ở bờ biển phía nam Thanh Hóa cũng có bãi Trường Sa. Bài vè Các lái của dân đi biển lưu truyền từ xưa, nói về đoạn đi qua bờ biển Tĩnh Gia như sau: “Trông ra Mê, trông kề Bung, Núc/ Trong Bãi Đón ngựa giúc Trường Sa/ Núi đầu trông cũng thấy tà tà/ Đó là Hòn Bạng, cũng là Hải Môn…” [Ngô Văn Ban, 2016].

Mặt khác, nếu kéo cả lực lượng binh thuyền đi dọc biển xuống phía nam nhưng lại không đổ bộ vào bờ biển hay bờ sông phía nam, mà phải bỏ thuyền tập trung lại ở bờ bắc rồi mới đánh sang là khá vô lý. Vì vậy việc gán Phật Thệ vào Thành Lồi ở vị trí xã Xuân Thủy phía nam sông Hương là rất khiên cưỡng.

Cách đánh như vậy thường chỉ có thể xảy ra khi có một con sông chắn ngang đường tiến quân, tức là trước đó quân đã phải đi đường bộ.

Mặt khác, nếu kéo cả lực lượng binh thuyền đi dọc biển xuống phía nam nhưng lại không đổ bộ vào bờ biển hay bờ sông phía nam, mà phải tập trung lại ở bờ bắc rồi mới đánh sang là không tỏ ra hợp lý. Cách đánh như vậy thường chỉ có thể xảy ra khi quân đi đường bộ và phải vượt qua sông để tấn công đối phương. 

Theo lời tố của vua Chiêm Thành là Dương Đà Bài với vua Tống về việc Lê Hoàn phá thành Phật Thệ trong sự kiện mà chúng ta đã thấy rằng trùng với việc Lê Hoàn đánh hai châu Hoan Ái năm 989 thì rất có thể thành này chỉ nằm ở khu vực Thanh Nghệ mà thôi. Tống sử, phần ghi chép về Chiêm Thành cho biết năm Thuần Hóa nguyên niên (990) vua mới tự xưng là Dương Đà Bài chiếm giữ nước Phật Thệ. Như vậy Phật Thệ cũng chỉ là một phần ly khai của Chiêm Thành chứ không phải là khu vực trung tâm.

Qua khảo sát địa lý bằng công cụ hiện đại, kết hợp với những kết quả nghiên cứu được trình bày ở trên, tôi cho rằng đội quân Lý Thánh Tông đã đi vào đến Châu Diễn, phía bắc Nghệ An, sau đó vào cửa Cờn và đi ngược sông Hoàng Mai. Họ phải bỏ thuyền đi một đoạn đường bộ để đến được bờ sông Hiếu, ở khu vực nay là Thị xã Thái Hòa.

Sông Hiếu có hai bên bờ khá dốc, rất khó đổ bộ qua nếu đối phương phòng thủ bên kia bờ sông. Tuy nhiên vẫn có một đoạn thích hợp, như trên hình sau:

Đường tiến quân và đoạn sông mà có thể quân nhà Lý đã vược qua
 

Một điều đáng chú ý là Thung Lũng Khe Vạc, với di chỉ Làng Vạc, một di chỉ giàu hiện vật hàng đầu của văn hóa bản địa, nằm sát bên khúc sông này. Ngày nay người ta đã có thể chắc chắn rằng đây là một trung tâm quan trọng của người Việt cổ. Điều đó càng làm cho phỏng đoán rằng đây là thành nước Hoàn Vương – Chiêm Thành có thêm cơ sở nặng ký. Lộ trình đến thành nước Hoàn Vương theo mô tả của Tân Đường thư có thể là từ huyện An Viễn đi về phía nam, qua sông Đà, lại đi hai ngày qua sông Mã, có lẽ là đoạn giữa Hòa Binh và Thanh Hóa, đi bốn ngày thì đến sông Chu, lại đi qua Đan Bổ Trấn, đi hai ngày đến thành nước Hoàn Vương, khu vực Thị xã Thái Hòa ngày nay.

Chúng ta thử xem xét thêm một số ghi chép sau đó trong Đại Việt sử ký toàn thư nói về việc xử lý của Lý Thái Tông sau cuộc chiến:

  • 遣 使 徧 行 鄕 邑 撫 論 遣 民 . [35a]
    Khiển sứ biến hành hương ấp phủ luận khiển dân.

    Nghĩa là: Sai sứ đi khắp các hương ấp phủ dụ dân chúng.
  • 是 日 群 臣 献 俘 五 千 餘 口 及 其 金 銀 珠 寶 之 物 . [35b]
    Thị nhật, quần thần hiến phu ngũ thiên dư khẩu, cập kì kim ngân châu bảo chi vật.
    詔 俘 虜 各 認 部 属 居 之 永 康 鎮 直 至 登 州 今 歸 化 是 置 鄕 邑 倣 占 城 舊 號 . [35b]
    Chiếu phu lỗ các nhận bộ thuộc, cư chi Vĩnh Khang trấn trực chí Đăng Châu [kim Quy Hoá thị], trí hương ấp phỏng Chiêm Thành cựu hiệu.

Nội dung này được Ngô Đức Thọ dịch (Hà Văn Tấn khảo đính) như sau: “Ngày hôm ấy, bầy tôi dâng tù binh hơn 5 nghìn tên và các thứ vàng bạc châu báu. Xuống chiếu cho các tù binh đều được nhận người cùng bộ tộc, cho ở từ trấn Vĩnh Khang đến Đăng Châu (nay là Quy Hóa), đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành”

Cao Huy Giu dịch (Đào Duy Anh khảo đính) như sau: “Ngày hôm ấy, bầy tôi dâng tù binh hơn 5 nghìn tên và các thứ vàng bạc châu báu. Xuống chiếu cho các chiến tù đều ghép theo bộ thuộc cho ở từ trấn Vĩnh Khang đến Châu Đăng (tức là Quy Hóa sau này), đặt hương ấp phỏng theo danh hiệu cũ của Chiêm Thành”.

Dù dịch thế nào thì, cùng với chi tiết sai sứ đi khắp các hương ấp phủ dụ dân chúng, chỉ có một cách hiểu hợp lý, đó là các tù binh được trả về địa phương của mình, và các nơi đó suốt một dải từ Vĩnh Khang (phía tây Nghệ An) đến Quy Hóa (tây bắc Việt Nam) thì được sáp nhập vào đất nhà Lý, nhưng được giữ lại tên gọi cũ. 

Từ những chứng cứ trên, có thể nhận định rằng dải đất kéo dài từ phía Tây Bắc Việt Nam đến miền núi vùng Thanh Nghệ vốn thuộc Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành, ít nhất cho đến đầu thời nhà Lý. Tất nhiên không thể nói rằng ở vùng đất này đã được ổn định. Đó là một quá trình không bằng phẳng, còn có những tiến trình ngược.

Còn có thêm một chứng cứ giúp xác nhận điều này, là bản phổ chí họ Phan, được chép vào năm 1806. Bạn đọc có thể xem tại đây: https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/20705

Còn có thêm một chứng cứ giúp xác nhận điều này, là bản phổ chí họ Phan, được chép vào năm 1806. Bạn đọc có thể xem tại đây: https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/20705

Mặc dù những người chép dựa theo sự truyền khẩu từ nhiều đời nên có những sai sót và lẫn lộn về cột mốc thời gian, tuy nhiên có một số chi tiết khó mà tìm ra lý do để cho rằng không dựa trên sự thật. Một là những người họ Phan này là hậu duệ của vua Chiêm Thành. Hai là lãnh thổ của Chiêm Thành từng ra đến phía tây bắc Việt Nam. Khu vực lộ Đà Giang vốn bị một người Trung Hoa là Trịnh Giác Mật chiếm của nước Chiêm Thành, rồi nhà Trần thu phục được, mới thuộc về Đại Việt. Ba là họ vốn dùng chữ khoa đẩu, về sau nhà Trần cấm sử dụng chữ này nên lịch sử dần bị mai một.

Bản phổ chí này cũng cho biết biên giới phía nam đến động Thạch Bi. Động Thạch Bi thì ở khối núi Đại Lãnh thuộc dãy núi Đèo Cả. Có thể đây là ranh giới phía bắc của trấn Thuận Thành.


Vấn đề châu Ô Lý, phía bắc của Chiêm Thành.

Tống sử – quyển 489 – Ngoại quốc 5 cho biết phía bắc [Chiêm Thành] gọi là châu Ô Lý. 

Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, trong đợt xâm lược lần thứ 2, năm 1285: “Nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân từ Vân Nam qua nước Lão Qua, thẳng đến Chiêm Thành, hội với quân Nguyên ở châu Ô Lý rôi cướp châu Hoan, châu Ái, tiến đóng ở Tây Kết, hẹn trong ba năm sẽ san phẳng nước ta”.

Theo Nguyên sử - Quyển 210 – Ngoại di 3 – Chiêm Thành thì năm thứ mười lăm Nguyên Thế Tổ [1278] Tả thừa Toa Đô nhân đã bình định nhà Tống, sai người đến Chiêm Thành, khi trở về nói vua nước ấy có ý muốn nội phụ. Năm 1280 Toa Đô được lệnh đến Chiêm Thành để lập sảnh yên vỗ. Rồi con của vua Chiêm là Bổ Đích nắm quyền, không chịu phục. Đầu năm 1283 nhà Nguyên sai một số binh thuyền đi đường biển đánh vào kinh đô Chiêm Thành nhưng vẫn không hạ được. Nhân vua Chiêm chịu đưa thư xin hàng và nộp cống nên quay về. Nguyên sử không hề nhắc đến Toa Đô đợt tấn công vào kinh đô Chiêm Thành lần này, vì vậy rất có thể y chiếm giữ khu vực Ô Lý ở phia bắc. Ngày mồng 6, tháng ba, năm thứ 21 (1284) Toa Đô đem quân quay về.

Sự kiện giữa Chiêm Thành và nhà Nguyên cũng được một người đương thời là nhà du ký Marco Polo ghi lại. Theo đó: "Chuyện xảy ra vào năm 1278 sau Thiên Chúa, Đại Đế nhà Nguyên đã phái một vị Nam Tước tên gọi là Sagatu (Toa Đô, chú thích của người dịch) dẫn một lực lượng kỵ binh và bộ binh vĩ đại sang đánh Vương Quốc Chamba, và vị Nam Tước này đã phát động một cuộc chiến tranh trên một qui mô rộng lớn để chống lại Nhà Vua và xứ sở của ông ta" (Nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2013/01/29/marco-polo-da-den-champa-vao-nam-1285/). Sau đó vua Chiêm Thành xin quy phục và triều cống. So sánh với Nguyên sử thì có thể cho rằng hai nguồn tư liệu độc lập này đã cùng ghi nhận đúng thực tế một sự kiện, và Sagato thì đúng là Toa Đô. Cuộc chiến của Toa Đô bằng kỵ binh và bộ binh phải là theo đường bộ từ Vân Nam xuống.

Năm 1285 Toa Đô mới đánh châu Hoan, châu Ái của Đại Việt. Như vậy đó phải là hai lần tiến quân khác nhau. Rõ ràng không có lý do gì để Toa Đô phải từ Vân Nam tiến xuống phía Quảng Trị và Thừa Thiên Huế trong một khoảng thời gian ngắn để đánh lên phía bắc. Vậy thì châu Ô Lý đúng là phải ở về phía tây bắc Việt Nam. Toa Đô từ thành Đại Lý của Vân Nam theo thung lũng sông đi xuống vùng Tây Song Bản Nạp, xuống Lão Qua, phía bắc nước Lào ngày nay, rồi cướp châu Ô Lý của Chiêm Thành nằm giữa bắc Lão Qua và Đại Việt, sau đó tiến xuống cướp vùng Hoan, Ái để tạo gọng kìm bao vây nhà Trần. Chi tiết hẹn trong ba năm sẽ san phẳng nước ta tỏ ra không phải là cách đánh tốc chiến của người Mông Cổ. Có thể thấy rằng Toàn thư đã chép không đúng sự thật, cố ghép hai cuộc hành quân của Toa Đô lại với nhau và đẩy y xuống tới Thuận Hóa, dẫn tới nhận thức là Toa Đô tấn công Chiêm Thành theo đường biển rồi vòng lên đánh Đại Việt. 

Cuộc tấn công Chiêm Thành từ hướng biển xảy ra vào cuối năm 1282. Một số chi tiết trong Nguyên sử, quyển 210 - Ngoại di 3, giúp xác định vị trí vùng trung tâm của Chiêm Thành: "Chiêm Thành ở gần Quỳnh Châu, nếu thuận gió đi thuyền một ngày là có thể tới nước ấy". ..."Tháng Mười một, Chiêm Thành hành sảnh quan đem quân từ Quảng Châu đi đường biển đến cảng Chiêm Thành. Cửa cảng phía bắc liền với biển, trên biển có năm cảng nhỏ, thông với Đại Châu của nước ấy. Phía đông và nam là núi, phía tây gần thành dựng bằng gỗ. Quan quân dựa vào bờ biển đồn trú".

Xét về khoảng cách, từ rìa phía tây nam của đảo Hải Nam đến khu vực bờ biển từ Thừa Thiên Huế đến Đà Nẵng là khoảng hơn 250km. Nếu thuận gió mùa đông bắc thì quả thật thuyền có thể đi tới trong khoảng một ngày đêm. Vậy cảng Chiêm Thành nằm trên đoạn bờ biển này chứ không thể ở xa về phía nam được. Dọc bờ biển, từ cửa Thuận An ở Huế đi về phía Đà Nẵng có nhiều cửa đi sâu vào đất liền, ở các vị trí Tư Hiền, Lộc Bình, Cảnh Dương, Chân Mây, Lăng Cô. Đại Châu thì phải là một khu vực trung tâm, đông dân cư. Xét trên bản đồ thì đó là khu vực đồng bằng sông Thu Bồn của xứ Quảng chứ khó có thể là một nơi nào khác.

Bản đồ từ cửa Thuận An đến phía bắc vùng Quảng Nam Đà Nẵng, phù hợp với mô tả trong Nguyên sử

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Đinh Mùi, [Hưng Long] năm thứ 15 [1307], (Nguyên Đại Đức năm thứ 11). Mùa xuân, tháng giêng, đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hoá. Sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên dân hai châu đó. Trước đấy chúa Chiêm Thành Chế Mân đem đất hai châu đó làm lễ vật dẫn cưới, nhưng người các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo. Vua sai Nhữ Hài đến tuyên dụ đức ý [của nhà vua] chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”. 

Xét vị trí của một dải đất như vậy thì không thể tìm ra lý do nào để vua Chiêm Thành có thể đem đổi lấy một công chúa nhà Trần. Mặt khác, nếu người Chiêm Thành đã bị đẩy về phía nam đèo Hải Vân từ đầu thế kỷ 14 thì rất khó giải thích được sức ảnh hưởng của họ lên miền đất bắc Trung Bộ mãi đến cuối thế kỷ đó, như Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận nhà Trần phải lập phòng tuyến phía bắc Thanh Hóa để phòng thủ Chế Bồng Nga, trong bối cảnh: Bấy giờ, người Nghệ An vốn ở hai lòng, còn Tân Bình, Thuận Hóa thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành (Thị thời, Nghệ An nhân hoài nhị, Tân Bình, Thuận Hoá đa phản tòng Chiêm) [Thuận Tông Hoàng Đế, trang 18a]. 

Theo ghi nhận trong sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An, phần Tổng luận, thì: Đất này từ thời Lý và Trần trở về trước là cương giới của Chiêm Thành, từ thời Hồ và thời Lê trở về sau triều đình mới lập thành quận huyện. Người chú giải sách này ở cuối thế kỷ 20 là ông Nguyễn Khắc Thuần dẫn những chi tiết trong Toàn thư để cho rằng Dương Văn An nhầm lẫn vì từ năm 1069 dưới thời nhà Lý về cơ bản biên giới phía nam của Đại Việt là ổn định. Tuy nhiên Dương Văn An là một tiến sĩ Nho học, quê ở Quảng Bình, viết sách này vào giữa thế kỷ 16 thì khó mà nhầm lẫn được. Trong phần đầu quyển 4 của bộ sách này Dương Văn An đã cho biết về thành Hóa: Năm Đại Trị thứ năm [1362] nhà Trần sai Đỗ Tử Bình chia đặt Lâm Bình và Thuận Hóa mới tu bổ xong tòa thành này. Như vậy thì không thể nói rằng Dương Văn An chép nhầm vì không biết rõ về Thuận Hóa, mà chỉ có thể giải thích rằng từ thời Trần phía Đại Việt chỉ duy trì được một số khu vực ven biển, còn lại thì người Chiêm Thành vẫn giữ phần lớn miền này. Thậm chí có tình trạng phía Đại Việt thực tế đã chỉ còn quản lý trên hình thức, như ghi nhận trong Toàn thư : "Triều đình tuy đã lấy Lê Khả Chú làm An phủ sứ lộ hai lộ ấy, nhưng chỉ ở kinh sư mà trấn trị từ xa, chứ chưa bao giờ tới quận".. Một sai lầm trong việc xét đoán về cương giới thời xưa là áp dụng ý niệm về cương giới của thời nay. Trong trường hợp của Lâm Ấp - Hoàn Vương - Chiêm Thành là người ta đã sử dụng biên giới chủ yếu theo phương nằm ngang để đẩy lùi cương vực của nước này về phía nam chứ không chịu nhìn nhận rằng thực tế ngày xưa yếu tố vùng xuôi và vùng ngược cũng chi phối mạnh, mà theo đó thì ở phần phía bắc, nước Đại Việt chủ yếu quản lý được vùng xuôi còn vùng ngược vẫn theo Chiêm Thành, chế độ có phần kế thừa từ nước Lâm Ấp.

Một sử liệu đưa đến nhận định về biên giới phía nam của Đại Việt từ năm 1069 là đoạn chép trong Toàn thư, [Thánh Tông hoàng đế, trang 5a] như sau:

秋 七 月 帝 還 自 占 成 獻 俘 于 太 廟 改 元 神 武 元 年 

制 矩 請 以 地 哩 麻 令 布 政 三 州 贖 罪

許 之 放 制 矩 還 國 地 哩 廣 南
Thu thất nguyệt, đế hoàn tự Chiêm Thành, hiến phu vu Thái Miếu, cải nguyên Thần Vũ nguyên niên. Chế Củ thỉnh dĩ Địa Lí, Ma Linh, Bố Chính tam châu thục tội. Hứa chi, Phóng Chế Củ hoàn quốc [Địa Lí Quảng Nam]

Nội dung này được các dịch giả bộ sách dịch ra như sau: "Mùa hạ, tháng 6 đem quân về. Mùa thu, tháng 7, vua từ Chiêm thành về đến nơi, dâng tù ở Thái Miếu, đổi niên hiệu là Thần Vũ năm thứ 1. Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước (Địa Lý nay là tỉnh Quảng nam)"

Thực ra thì những người dịch đã tự ý cho chữ "nay là" vào phía trước chữ "Quảng Nam", trong khi nếu muốn nói lên ý đó thì văn bản gốc cần phải có chữ 今 (kim = hiện nay). Có thể người ta đã chép thiếu đi một chữ để gây nên sự mù mờ nhằm tùy tiện diễn giải về vị trí của châu Địa Lý. Khi khẳng định được rằng thời nhà Lý biên giới nước Đại Việt chưa thể vươn đến miền Quảng Nam thì chúng ta thử tìm cách giải mã các chữ trên theo một hướng khác.

Giai đoạn đó có một khu vực gọi là Quảng Nam của nhà Tống, chính là miền Lưỡng Quảng, sát biên giới Đại Việt, trong đó Quảng Đông được gọi là đông lộ, Quảng Tây là tây lộ. Quách Quỳ, viên chủ tướng trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1076 chính là Tuyên phủ sứ Quảng Nam. Hiện nay vẫn còn một huyện gọi là Quảng Nam lớn gần bằng tỉnh Quảng Nam của Việt Nam, nằm trong Châu tự trị Choang Vân Sơn ở sát biên giới Việt Nam. Rất có thể châu Địa Lý tiếp giáp hoặc từng thuộc lộ Quảng Nam này.

Như vậy tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành thời nhà Lý cho đến đầu thời Trần thực tế không phải từ khu vực Hoành Sơn đến Quảng Nam ở trung bộ Việt Nam ngày nay mà là các vùng cao phía bắc và phía tây. Châu Ô Lý, chúng ta đã xác định châu này ở khoảng khu vực Tây Bắc, xưa gọi là Quy Hóa. Ngoài ra, ở khu vực Sơn La phía dưới có một vùng gọi là Thuận Châu đã có từ xưa. 




                    Vị trí của Quy Hóa châu, Thuận châu và Đà Giang thời Lý Trần

Như vậy tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành thời nhà Lý cho đến đầu thời Trần. Khi xác định châu Ô Lý ở về phía tây bắc Việt Nam thì vấn đề trao đổi hoàn toàn có thể giải thích hợp lý. Khu vực này đã bị quân Nguyên chiếm, sau đó bị nhà Trần chiếm lại. Bởi vì phía dưới là lộ Đà Giang cũng đã bị nhà Trần lấy mất con đường kết nối đã bị tắc dần nên vua Chiêm Thành rút cục đã phải nhượng lại cho nhà Trần, với một món trao đổi có tính chất tượng trưng là nàng công chúa Huyền Trân. Nếu đây là vùng Thuận Hóa thì không thể dễ dàng nhượng lại được.

Bây giờ xin thử khôi phục một tiến trình sơ lược lịch sử đã xảy ra trên đất Việt Nam.

Điều dễ dàng được thừa nhận là đến thời điểm cột mốc Công nguyên trên khu vực Việt Nam đã có sự tồn tại của nhiều nhóm cư dân. Theo những khảo cứu của tôi ở bài viết trước thì trên vùng này, giáp với Lĩnh Nam, đã có một quốc gia mà sử Trung Quốc gọi là Lâm Ấp. Năm 43 Mã Viện xâm lược nước Lâm Ấp.

Sử sách Trung Quốc ghi nhận Lâm Ấp độc lập vào thời Sơ Bình, khoảng năm 193, giai đoạn tan rã của triều đình nhà Hán. Đến triều vua Phạm Văn, đầu thế kỷ 4, Lâm Ấp đã phát triển mạnh mẽ, kiêm tính thêm bảy nước khác là Đại Kỳ Giới, Tiểu Kỳ Giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Kiền Lỗ, Phù Đan. Có thể đây là sự mở rộng kết nối từ khu vực văn hóa Đông Sơn ở ven biển Bắc Bộ, đặc biệt là đi về phía nam, thuộc văn hóa Sa Huỳnh. Địa hình Việt Nam, với sự chia cắt ra tới biển của các dãy núi từ bắc vào nam, hoàn toàn phù hợp với sự tồn tại của các tiểu quốc, mà sau đó được thống nhất bởi một quốc gia mạnh về hàng hải cũng là điều dễ giải thích. Các dấu vết ở di chỉ Bãi Cọi, gần cửa sông Cả cho thấy phía dưới là cơ tầng Sa Huỳnh chứ không phải Đông Sơn. Lâm Ấp thời điểm này phải là một quốc gia đa sắc tộc, đa ngôn ngữ.

Lâm Ấp độc lập suốt khoảng bốn thế kỷ trong giai đoạn Lục triều của Trung Quốc, sau đó bị nhà Tùy chiếm đóng. Theo ghi nhận của các bộ sử Trung Quốc cho thấy Lâm Ấp chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ. Theo Tấn thư thì quốc thư của vua Lâm Ấp gửi vua nhà Tấn được viết bằng chữ Hồ. 

Trong giai đoạn này Lâm Ấp đã bắt đầu chịu nhiều ảnh hưởng của người Hán. Một trong số đó hẳn là hệ thống từ gốc Hán, mà cách phát âm được bản địa hóa một cách chủ động chứ không thể trong hoàn cảnh bị đô hộ. Bên cạnh đó, hệ thống mộ gạch của giới quý tộc cũng là một sự tiếp thu từ người Hán nhưng vẫn có những khác biệt. Tuy vậy, với những bằng chứng là nhiều trống đồng được sản xuất sau thế kỷ 2 được phát hiện, lại còn rất nhiều mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại thế kỷ 3 đến 6, ở khu vực Bắc Ninh, cho thấy dưới thời kỳ Lâm Ấp độc lập truyền thống sử dụng trống đồng đã được khôi phục.

Cuộc chiếm đóng của nhà Tùy, rồi nhà Đường kéo dài suốt 300 năm đã cắt đứt tiến trình đồng hóa xuất phát từ trung tâm Lâm Ấp, miền đồng bằng ven biển Bắc Bộ. Mặt khác lại mở ra một tiến trình Hán hóa mạnh vào chính khu vực này. Rút cục, đã hình thành một lớp cư dân mới, gọi là người Kinh.

Những khu vực suốt một dải từ vùng núi phía tây cho đến vùng xa phía nam vẫn độc lập. Đó chính là quốc gia mà sử Trung Quốc gọi tên khác nhau theo từng thời kỳ, là Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành. Cũng chính sự ngộ nhận khi đồng nhất giữa Lâm Ấp trước khi bị nhà Tùy xâm lược với Lâm Ấp ở giai đoạn sau, nên nhiều vấn đề lịch sử đã không thể giải quyết được.

Đã có những ghi nhận về sự phản công của Hoàn Vương. Chẳng hạn, Tân Đường thư cho biết đầu niên hiệu Nguyên Hòa (khoảng 806) nước Hoàn Vương chiếm hai châu Hoan Ái, sau An Nam Đô hộ Truong Chu đánh dẹp, chém ba vạn thủ cấp, bắt sống 59 người con của vua. Năm Trường Khánh thứ tư (824) Hoàn Vương cùng người man Hoàng Động đánh hãm Lục Châu, tức là miền Quảng Ninh ngày nay.

Nhân nói về việc các con của vua Hoàn Vương, xin đề cập đến hệ thống đền thờ các ông hoàng trong tín ngưỡng thờ nữ Mẫu. Tôi cho rằng chỉ có một cách giải thích hợp lý, đó là đền do dân chúng lập nên để thờ các hoàng tử của nước Hoàn Vương hy sinh trong các cuộc chiến chống lại An Nam Đô hộ phủ. 

Kỷ nguyên độc lập cũng là giai đoạn người Kinh lấn dần vào địa bàn của người anh em Chiêm Thành. Bắt đầu từ thời vua Lê Hoàn đã xảy ra nhiều cuộc chiến. Nhà Lý cũng tổ chức nhiều đợt đánh Chiêm Thành với quy mô lớn do đích thân nhà vua cầm quân. Triều đại này đã có chính sách phủ dụ dân chúng bản địa nhằm sáp nhập lãnh thổ. Chẳng hạn, nhà Lý đã cho đặt hương ấp phỏng theo tên cũ của người Chiêm Thành. Nhà Trần tiếp tục công việc của nhà Lý. Triều đại này đã thu phục được toàn bộ vùng đất Chiêm Thành nằm về phía tây của Đại Việt. Tuy nhiên, theo bản phổ chí được đề cập ở trên, nói đến việc cấm chữ Chiêm, thì nhà Trần có một chính sách ngược với nhà Lý, đó là xóa bỏ ký ức của người Chiêm Thành, đồng hóa họ. 

Có thể nói, từ thời nhà Trần trở về sau, ý chí của triều đình Đại Việt đã tác động lớn vào ký ức lịch sử dân tộc. Trống đồng đã hầu như không còn được sử sách nhắc tới. Cách đưa ra nguồn gốc dân tộc từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, của nhà Lê, lại rất có vấn đề. Sử Việt đã bị chi phối quá nhiều bởi yếu tố phương bắc.

Dưới thời Nguyễn, thậm chí sử quan Nguyễn Thông viết trong sách Việt sử thông giám cương mục khảo lược rằng: “…Vả lại, quan thú hiền các đời trước sau nối gót, lễ giáo thấm nhuần, phong hóa bay khắp. Thành ra dân đầu trọc vẽ trán dần dần như mưa tạnh khói tan. Khu vực dãi rắn bọt thuồng luồng biến thành núi tươi sông đẹp. Đây là khí đất từ bắc sang nam, giống này lớn lên thì giống kia tiêu diệt, cũng là cái vận tự nhiên đấy. Thế thì nước Việt ta, đất dù là nước cũ của Hùng Lạc, mà người là dòng dõi khăn đai, từ lâu lắm rồi…”. Suy nghĩ đó đương nhiên chi phối cách nhìn nhận rất nhiều vấn đề về lịch sử dân tộc.

Các nhà chép sử Trung Quốc đã tạo ra sự ngộ nhận về một nền cai trị liên tục từ thời nhà Tần. Về sau gọi là nghìn năm Bắc thuộc. Chính vì sự ngộ nhận đó mà chúng ta từng ca ngợi những nhân vật như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp…như những nhà khai hóa. Thực sự địa bàn hoạt động của họ là ở bên Lưỡng Quảng.

Ở khu vực đồng bắng Bắc Bộ Việt Nam, sau khi thoát khỏi 300 đô hộ cùa các nhà Tùy và Đường, ngay cả ở tầng lớp tinh hoa vốn là tầng lớp có thể chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ Trung Quốc thì vẫn bộc lộ những khác biệt với người Hán. Đinh Bộ Lĩnh đặt quốc hiệu nước ta là Đại Cồ Việt, mà chữ Cồ được các nhà nghiên cứu chỉ ra không phải là từ gốc Hán. Dưới thời nhà Lý, mặc dù tổ chức chính quyền đã bắt chước mô hinh Trung Hoa, nhưng vẫn chứa nhiều khác biệt. Triều đại này chỉ lập văn miếu vào năm 1070, muộn 60 năm từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi. Suốt thời Lý hơn 200 năm chỉ tổ chức có ba kỳ thi Nho học để tuyển quan lại. Rõ ràng việc coi dân tộc Kinh “mà người là dòng dõi khăn đai [ý nói là người Hán]” là một sự ngộ nhận lớn.

Sự ngộ nhận sở dĩ lớn dần lên, là theo sự du nhập các giá trị Nho học Trung Hoa, với sự tiếp tay của các chế độ và giới trí thức bản địa. Lịch sử Việt Nam trở thành một khối mơ hồ, bí hiểm, đầy mâu thuẫn là vì thế.