Hoàng Cương

Tác giả đã cân nhắc kỹ và sẵn sàng chịu trách nhiệm về bài đăng

Search This Blog

Sunday, February 6, 2022

Lần này chúng ta có chấp nhận xét lại lịch sử không?

 



Lần này chúng ta có chấp nhận xét lại lịch sử không?

                                                                  Hoàng Cương



Mở đầu


Ngày nay, với mức độ tiếp cận thông tin đã tăng lên rất nhiều, thì câu hỏi về giai đoạn lịch sử cổ xưa trong tiến trình dân tộc Việt Nam đã trở thành một vấn đề lớn.

Chúng ta rõ ràng không thể tìm thấy cơ sở khoa học lý giải sự ra đời của huyền sử 18 đời Hùng Vương, tại sao lại có con số như vậy. Nếu lịch sử thời Bắc thuộc đúng như chúng ta biết, thì tại sao Lĩnh Nam ở địa bàn Việt Nam, bất chấp thực tế đây là khái niệm người Trung Quốc đặt ra để chỉ vùng đất phía nam miền núi Ngũ Lĩnh, tức phải là vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Nếu người Việt và người Mường vốn là từ một cộng đồng, bắt đầu tách ra từ khoảng thế kỷ 7-8, theo nhiều bằng chứng về ngôn ngữ học, thì lý do nào cho sự chia tách đó. Những phát hiện gần đây, như bãi cọc gỗ ở Cao Quỳ hay những khu mộ địa cổ lớn ở vùng Đông Bắc Bộ với rất nhiều di vật, dường như đem thêm bế tắc cho giới nghiên cứu, vì không có cơ sở lịch sử để lý giải.

Những nỗ lực để lý giải những hoài nghi đó đã đưa tôi đi đến những bất ngờ lớn.

Sử Việt vẫn cho rằng người Trung Quốc đô hộ Giao Châu, gồm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam theo thứ tự trải từ miền bắc đến miền trung, hơn 1000 năm liên tục. Việc ghi nhận này là dựa vào sử Trung Quốc, quốc gia đã chiếm đóng. Họ đặt các tên gọi này và viết sử trước người Việt rất lâu.
Thực tế thì Giao Châu chủ yếu ở về phía bắc biên giới ngày nay, còn khu vực Việt Nam, mà chúng ta mặc định là Giao Châu trong thời gian đó, là đất nước mà chúng ta gọi là Văn Lang, còn theo sử sách Trung Quốc thì họ gọi là Lâm Ấp.
Kinh thành của Văn Lang ở khu vực bờ biển phía đông Bắc Bộ Việt Nam, trên một vùng đất hiện nay đã phát hiện các di chỉ cổ dày đặc, bao gồm Việt Khê, Liên Khê, Mạo Khê, Uông Bí, Quảng Yên, Cao Quỳ...
Giữa hai giai đoạn Bắc thuộc có một khoảng thời gian độc lập khá dài, từ thời nhà Hán, cho đến năm 605 thì lại rơi vào ách đô hộ.
Nhà nước cai trị sau đó đem các địa danh từ Lĩnh Nam, tương ứng khu vực Lưỡng Quảng ngày nay, đặt vào miền đất mới.
Việc đổi các địa danh có thể coi là đánh tráo các bằng chứng lịch sử, sau thời gian dài có thể tạo ra một sự mơ hồ trong ký ức cộng đồng, dẫn đến sự ngộ nhận. Họ đã lợi dụng việc này và sửa các ghi chép liên quan trong hệ thống sử sách để đánh tráo khá thành công ký ức cộng đồng của người Việt.
Nói ngắn gọn là người Việt đang mang một ký ức giả. Cổ sử về giai đoạn trước thế kỷ 7 hầu như sai hết. Hệ quả là lịch sử chứa đầy mâu thuẫn, dẫn đến mơ hồ về nguồn gốc và tiến trình hình thành dân tộc.

Nội dung chi tiết sẽ được trình bày dưới đây. Tôi là Hoàng Cương, xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết.


Vị trí của Giao Châu thời Hán và Lục triều

Địa bàn Quảng Đông và Quảng Tây nước Trung Quốc ngày nay vốn là khu vực độc lập của nhiều bộ lạc, phân biệt với đất của Trung Quốc phía bắc bởi một miền núi non gọi là Ngũ Lĩnh. Xưa họ gọi Lĩnh Nam là vì thế.

Sau khi nhà Tần cho quân vượt Ngũ Lĩnh tiến xuống Lĩnh Nam, mở được ba quận, rồi Triệu Đà và con cháu tiếp tục mở rộng, cho đến khi nhà Hán diệt nhà Triệu năm 111 TCN, thiết lập các quận huyện, thì toàn bộ khu vực này mới thuộc về Trung Quốc.

Lĩnh Nam được đặt tên chính thức là Giao Chỉ bộ, sau đổi là Giao Châu, thời Đông Ngô lại tách thành Giao Châu và Quảng Châu. Từ lúc này Giao Châu gồm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Sử sách Việt Nam và Trung Quốc từ thời Đường trở về sau đều coi Giao Châu, gồm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời trước đều ở trên địa bàn Việt Nam ngày nay, trải theo thứ tự Giao Chỉ ở miền Bắc, Cửu Chân ở Bắc Trung Bộ, Nhật Nam ở Trung Trung Bộ hoặc kéo dài đến Nam Trung Bộ.


Tuy nhiên, có một điều cần được lưu ý là khái niệm châu thời Đường thì không phải là châu thời Hán, bởi vì giữa đó, từ thời Lương đã có một cuộc cải cách hành chính lớn. Họ bỏ các châu được lập từ thời Hán, một đơn vị hành chính rất lớn gồm nhiều quận, lại đổi tên các quận và gọi đó là châu. Vậy Giao Châu thời Hán và thời Đường là hai thực thể khác nhau. Vấn đề đặt ra là Giao Châu thời Hán có phải cũng nằm trên địa bàn Việt Nam không? Nếu để ý kỹ các bộ sử, nhất là soạn trước thời Đường, chúng ta có thể nhận ra sự thật không phải như vậy. Xin đưa ra vài căn cứ.

1. Theo Hậu Hán thư, quyển 76, phần Nhâm Diên truyện thì Thái thú Cửu Chân là Nhâm Diên cùng với Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang có công giáo hóa dân di dần theo lễ nghĩa. "Phong tục Hoa Hạ ở Lĩnh Nam bắt đầu từ hai viên quận thú này" (1).

Mà việc phân biệt địa bàn Lĩnh Nam với Hoa Hạ chính là nhờ các dãy núi thuộc Ngũ Lĩnh ở giữa. Nếu các quận Giao Chỉ và Cửu Chân ở địa bàn Việt Nam, quá xa về phía nam, diện tích lại nhỏ hơn, thì dẫu có miễn cưỡng xếp vào cõi Lĩnh Nam cũng không thể coi là đại diện cho Lĩnh Nam như thế được.

2. Theo Hậu Hán thư, quyển 23, phần Quận quốc chí - ngũ:

 “Quận Giao Chỉ thành lập thời Hán Vũ đế (143tr.CN-87tr.CN), tức là nước của An Dương Vương, cách Lạc Dương 1 vạn 1 ngàn dặm về phía Nam, gồm 12 thành: Long Biên, Liên Lâu, Yên Định, Câu Lậu, Mi Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Chu Diên, Phong Khê, đặt ra vào năm thứ 19 niên hiệu Kiến Vũ [43]; Vọng Hải, được lập vào năm thứ 19 niên hiệu Kiến Vũ [43].

Quận Cửu Chân lập thời Vũ đế, cách Lạc Dương 11.050 dặm, gồm 5 thành (46.513 hộ, 209.914 khẩu): Tư Phố, Cư Phong, Hàm Hoan, Vô Công, Vô Biên.” (2)

Khoảng cách dù được tính theo cách nào thì cũng không thể có con số chênh lệch giữa Giao Chỉ và Cửu Chân nhỏ như thế, nếu hai quận này ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.

3. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Nam Việt Úy Đà Liệt truyện, và theo Hậu Hán thư, quyển 83, phần Nam man truyện, ban đầu nhà Hán chia Nam Việt làm chín quận. Trong đó quận Châu Nhai tức là khu vực đảo Hải Nam. Về sau nhà Hán phải bỏ quận này vì không quản được. Hải Nam chỉ cách đất liền Quảng Đông qua một eo biển rộng khoảng 20km, đứng trong bờ có thể nhìn thấy, nếu không quản được trong khi lại quản được đến đến miền nam Trung Bộ Việt Nam thì rất vô lý.

4. Theo Tam Quốc Chí của Trần Thọ, phần Sĩ Nhiếp truyện, thì khi Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ đã từng được nhà Hán phong làm “Tuy Nam Trung lang tướng, cai quản bảy quận”. Đến khi có cục diện Tam Quốc, Sĩ Nhiếp dẫn dụ các họ lớn ở Ích Châu là bọn Ung Khải đem cả dân chúng trong quận sang quy phục phía Đông Ngô (3).

Nếu địa bàn Giao Chỉ ở khu vực Việt Nam ngày nay thì Sĩ Nhiếp có thể can thiệp được xa về phía bắc như thế không? Luy Lâu, nơi Sĩ Nhiếp đóng từng là trị sở chung của Giao Châu, gồm cả 7 quận Lĩnh Nam, nếu ở phía đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam thì rất xa vùng trung tâm, vừa xa kinh đô nhà Đông Ngô, liên lạc bất tiện, vì vậy hoàn toàn không hợp lý.

5. Theo Hậu Hán thư, quyển 86, phần Nam man truyện: "Năm Vĩnh sơ nguyên niên (107) đời An đế, người man di Dạ Lang ở ngoài biên Cửu Chân đem đất xin nội thuộc" (4). Cũng theo sách này, phần Nhâm Diên truyện, có đoạn chép lúc Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân: "Bởi vậy, những nơi man di ngoài cõi như nước Dạ Lang cùng mộ nghĩa mà giữ yên quan ải" (5). Theo đó Cửu Chân có biên giới với Dạ Lang, một xứ mà người ta xác định là ở phía tây tỉnh Quý Châu Trung Quốc ngày nay. Như vậy thì Cửu Chân làm sao lại có thể vừa ở tận phía tây bắc Quảng Tây lại vừa ở bắc trung bộ Việt Nam được.

6. Theo Hậu Hán thư, quyển 86, phần Nam man truyện, năm 137 ở Nhật Nam và Cửu Chân có loạn Khu Liên. Nhà Hán tính cử binh đánh dẹp, nhưng có viên quan là Lý Cố dâng kế sách chiêu dụ. Nội dung thư có đề cập: "Hiện giờ Nhật Nam quân mỏng lương hết, thủ còn không đủ, chiến càng chẳng nên. Khá cho dời tất cả lại dân lên phía bắc dựa vào Giao Chỉ, sau khi việc yên ắng lại quay về bản quán" (6). Cứ theo nội dung này thì Nhật Nam không chỉ tiếp giáp Cửu Chân mà còn phải tiếp giáp phía nam của Giao Chỉ, tức là không có một quận Cửu Chân dài hàng trăm km xen vào giữa. Lại một cơ sở ngược với nhận thức ngày nay về vị trí ba quận này ở Việt Nam.

7. Theo Thủy Kinh chú của Lịch Đạo Nguyên: "Năm Kiến An thứ 16, nhà Ngô sai Bộ Chất người ở Lâm Hoài làm Thứ sử Giao Châu, đem 400 vũ lại đi Giao Châu, đường sá không thông. Thái thú Thương Ngô là Ngô Cự, người quận Trường Sa, có 5000 quân. Chất có ý nghi ngờ Cự, trước sai sứ đến truyền bảo Cự. Cự đón Chất ở Linh Lăng, Chất vào được châu. Cự đã tiếp nhận Chất, sau đó lại hối. Chất nghĩ mình ít quân, e không tồn tại được. Cự có Đô đốc là Khu Cảnh, dũng cảm mưu lược ngang với Cự, được kẻ sĩ nghe theo. Chất ghét, ngầm sai người mời Cự. Cự đến nói với Cảnh, chớ có tới chỗ Chất. Chất mời mãi, Cảnh lại đi, liền bị Chất chém chết cả hai ở sân giữa trước nhà làm việc, đem đầu bêu cho mọi người biết"(7)

Vị trí của quận Thương Ngô đã được biết tương đối rõ, là phần đất Quảng Tây giáp giới với Quảng Đông, và có một phần nay là đất Quảng Đông. Nếu Bộ Chất vào trị sở Giao Châu phải đi qua địa bàn Thương Ngô của Cự, rồi hai bên qua lại được với nhau như thế chứng tỏ khá gần. Vậy thì trị sở Liên Lâu của Giao Châu không thể ở xuống phía nam đến đất Việt Nam.

8. Thủy Kinh chú cũng cho biết các con sông tên là Lô Dung và Thọ Linh chảy trên đất Nhật Nam và đổ vào sông Uất Thủy, tức là các sông này thuộc hệ thống sông Châu Giang. Theo đó Nhật Nam không thể thuộc vùng Trung Bộ Việt Nam.

Những bằng chứng trên đây cho thấy rằng Giao Châu được đề cập đến là ở Lưỡng Quảng chứ không phải Giao Châu ở Việt Nam.

Nhận định này phù hợp với ghi chép của Khuất Đại Quân, tác giả bộ sách Quảng Đông tân ngữ.

Ông là một học giả người Quảng Đông, thế kỷ 17, từng được xếp vào Lĩnh Nam tam đại gia, được Lê Quý Đôn trích dẫn rất nhiều. Chẳng hạn Vân Đài loại ngữ, quyển 3 – Khu vũ ngữ – điều 48 và 72 có các đoạn như sau: “Ta xem mạch núi Giao Chỉ phát từ Quý Châu mà Quý Châu là miền cuối các sông, núi ở đó đều từ Ba Thục chạy tới; đại khái long mạch chạy qua như muôn vàn đợt sóng, nhảy nhót không ngừng, thẳng đến Giao Châu mới kết thành đất nước. Vân Nam là cửa sau, Quảng Tây là cửa trước, mà cõi đông là Quảng Châu và Khâm Châu...”, “Vậy thời Giao Chỉ ở về phía hữu Quảng Đông, mạch Vân Nam, Quý Châu phát ở đó, đủ biết Giao Chỉ là thượng du, cho nên các con ngọn sông ở Quảng Tây đều phát nguyên ở Giao Chỉ, xuống Thương Ngô, rồi chảy ra biển Nam Hải“. Theo dấu hiệu địa lý này thì Giao Chỉ ở phía Lưỡng Quảng chứ không thể là Việt Nam được. Lại chép: “Đất Giao Chỉ có 17 quận, 49 châu, 157 huyện. Mỗi năm nộp thóc cho quan tư nông hơn một nghìn ba trăm sáu mươi vạn hộc. Tính ra tất cả thuế các châu Mân, Quảng, Điền, Kiềm cũng không bằng“. Như vậy, đến thời điểm đó người ta vẫn còn ý niệm về một một xứ Giao Chỉ, cùng với Mân, Quảng, Điền, Kiềm, tất cả phải là những địa phương của Trung Quốc chứ không phải là ngoại quốc.

(Vấn đề này tôi đã viết đầy đủ trong bài bổ sung, cùng đăng trên trang web này: "Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử."

Đến thời nhà Đường thì Giao Châu rõ ràng đã là vùng đất ở Việt Nam. Vậy thì giữa quãng thời gian từ đầu thế kỷ 6, lúc Lịch Đạo Nguyên viết Thủy Kinh chú, đến thời Đường đã có việc dời địa danh này xuống cho phía nam.

Sự thay đổi lớn như vậy mà chúng ta không thấy ghi nhận thì chỉ có một lý do: Nó đã bị che đậy một cách có hệ thống.

Người Trung Quốc từ rất sớm đã có các tài liệu, do các tác giả độc lập, viết riêng về các khu vực phía nam, như "Giao Châu ngoại vực ký", "Giao, Quảng Xuân Thu nhị châu", "Quảng Châu ký", "Lâm Ấp ký", "Nam Việt chí"... Các tài liệu này đều có mức độ phổ biến nhất định khi mà trong bối cảnh phân liệt bắc nam thì Lịch Đạo Nguyên ở phía bắc vẫn có để tham khảo, về sau đều biến mất.


Thủy Kinh chú

Tác giả Thủy Kinh chú là Lịch Đạo Nguyên (466 hoặc 472-527). Ông biên soạn sách này vào khoảng năm 515-527. Lịch Đạo Nguyên dựa vào một tác phẩm có từ trước là Thủy Kinh, mô tả sơ lược 137 con sông, và tham khảo rất nhiều tài liệu để nâng cấp toàn diện, dung lượng gấp 20 lần sách gốc, trình bày 1252 con sông lớn nhỏ.

Lịch Đạo Nguyên mô tả hướng chảy của các con sông từ đầu đến cuối nguồn, đồng thời kết hợp cung cấp các thông tin về văn hóa và lịch sử ở những địa phương chúng chảy qua. Thông tin trong Thủy Kinh chú vì vậy rất phong phú và đặc biệt. Các nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam đã khai thác rất nhiều từ bộ sách này.

Một điều ngạc nhiên là mô tả trong Thủy Kinh chú về một số con sông, gắn liền với các quận huyện thuộc Việt Nam, nhưng lại chảy vào Uất Thủy, tức là sông Châu Giang. Để lý giải được chỗ trái khoáy này, người ta buộc phải chấp nhận rằng Lịch Đạo Nguyên quan niệm bờ biển nơi các sông của Việt Nam chảy ra cũng là sông Uất Thủy. Các học giả như Hùng Hội Trinh (8), người dành hàng chục năm để chú giải bổ sung cho Thủy Kinh chú, và Đào Duy Anh, tác giả công trình Đất nước Việt Nam qua các đời, chấp nhận quan niệm này (9).

Một cơ sở để chấp nhận quan niệm ngớ ngẩn đó có thể là đoạn Thủy Kinh chú chép về sông Uất Thủy: ""Sơn hải kinh" nói: sông Uất Thủy ra từ Tượng Quận, chảy về phía tây nam đổ vào biển Nam Hải vào phía đông Hạng Lăng là thế. Ưng Thiệu nói sông Uất Thủy ra từ huyện Quảng Tín chảy về phía đông vào biển. Lời ấy phần trước thì còn được, phần sau không phải vậy" (10)

Ưng Thiệu phản ánh đúng thực tế, sông Uất Thủy đúng là đi qua huyện Quảng Tín thuộc Thương Ngô chảy về phía đông qua quận Nam Hải rồi đổ vào biển. Trong khi "Sơn hải kinh" thì lại sai, bởi vì không có sông nào trong phạm vi địa lý chúng ta đang bàn tới lại có thể chảy về phía tây nam ra biển được. Ý tứ đoạn này thì đúng là sông Uất ra đến biển ở quận Nam Hải rồi thì vẫn chảy về phía tây nam, tức là đi ven biển đến khu vực nay là Việt Nam.

Tuy nhiên Lịch Đạo Nguyên là một chuyên gia về địa lý và lịch sử, trong công trình của mình đã mô tả hơn 1000 con sông từ tận đầu nguồn, lẽ nào lại ngớ ngẩn coi biển là sông, lại lấy cái sai sơ đẳng để phản bác cái đúng như vậy được.

Với việc hiểu rằng các địa danh ở Việt Nam là được bê từ phía Lĩnh Nam xuống để đặt lại thì chúng ta lại có được câu trả lời rõ ràng. Lịch Đạo Nguyên nói về các con sông ở Lưỡng Quảng, các địa danh vốn cũng ở đó. Các địa danh ở Việt Nam là những bằng chứng người ta giả mạo, gây ngộ nhận rằng các con sông và các câu chuyện lịch sử là ở Việt Nam. Vậy thì đoạn Thủy Kinh chú đó không phải do Lịch Đạo Nguyên viết, mà về sau người ta chắp vá thêm để phục vụ cho mục đích hợp lý hóa kiến thức giả.

Vậy nếu Giao Châu thời Hán và Lục triều ở phía Lưỡng Quảng thì xứ giáp giới phía nam là Lâm Ấp có thể chính là Việt Nam ngày nay.


Nước Lâm Ấp

Một ví dụ nữa dưới đây, cho thấy sự bất thường trong văn bản Thủy Kinh chú, lại dẫn đến vấn đề Lâm Ấp, trọng tâm của bài viết này.

Xin đặt hai chuỗi trích Thủy Kinh chú đặt cạnh nhau, liên quan đến thành Khu Túc nước Lâm Ấp. Mỗi chuỗi nằm trên một mạch thông tin, nhưng để cho gọn tôi lược bớt vài đoạn không ảnh hưởng.

1. "Năm đầu niên hiệu Nguyên Gia (năm 424), Thứ sử Giao Châu là Nguyễn Di Chi đánh Lâm Ấp. Dương Mại đi ra ngoài cưới vợ, không có ở trong nước. Phấn uy tướng quân là Nguyễn Khiêm Chi đem 7000 quân trước đánh úp Khu Túc, đã đi qua Tứ Hội, chưa vào Thọ Linh. Ở đấy biển lặng, bờ thẳng, gặp bão nên thua to. [...] Năm Thăng Bình thứ 3 (năm 359), Ôn Phóng Chi đánh Phạm Phật ở Âm Dương Kỳ, chỗ phân giới của Vịnh, đi vào vịnh Tân La đến Yên Hạ, có tên là sông ngách A Bôn Phố. Đi vào vịnh Bành Long, ẩn tránh sóng gió, tức là các vũng biển của nước Lâm Ấp. Năm Nguyên Gia thứ 23 (năm 446), Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi đã phá thành Khu Túc, cờ bay rợp biển, định kéo đến Điển Xung, lên Quỷ Tháp trong vịnh Bành Long, đánh nhau to với quân Lâm Ấp"(11)

Chuỗi thông tin thứ nhất khiến chúng ta nghĩ là thành Khu Túc ở ven biển, từ Giao Châu đến Khu Túc là theo đường biển.

2. "Sông Uất lại chảy về phía nam đi qua sông Tứ Hội Phố, sông này phía trên tiếp với sông Cổ Lang Cứu Phố ở phía tây huyện Lô Dung, quận Nhật Nam [...] Sông chảy vòng vèo về phía đông nam, thông với hồ Lang, hồ nhận nước của khe Kim Sơn Lang Cứu. Nước khe chảy về phía bắc, ở bên trái hội với hai con sông Lô Dung và Thọ Linh. Sông Lô Dung ra từ núi cao ở phía nam thành Khu Túc, chảy về phía tây nam. Ở phía nam núi, dãy núi dài tiếp liền với các ngọn núi ở phía tây như bức màn che tự nhiên. Sông Lô Dung gom nước ở núi Ẩn Sơn, đi vòng quanh phía tây, bao qua phía bắc, rồi chảy về phía đông đi qua phía bắc thành Khu Túc, lại chảy về phía đông hợp với sông Thọ Linh ở bên phải. Núi Ẩn Sơn đi vòng phía đông đi qua phía nam thành Khu Túc cũ."(12). "Lâm Ấp ký nói thành ấy đóng giữa hai con sông, ba phía gần núi, phía nam và phía bắc trông xuống sông. Phía đông và phía tây có khe suối chảy tụ lại ở dưới chân thành" (13). Ngoài ra một chi tiết khác còn cho biết khi Đàn Hòa Chi tấn công thành Khu Túc: "Năm thứ 23, dương cờ theo sông ngách Tứ Hội Phố, vào Lang Hồ, đóng quân ở Khu Túc, tiến sát vây thành."

Chuỗi thông tin thứ hai miêu tả khá chi tiết vị trí của thành Khu Túc, nằm khoảng giữa con sông chảy quanh theo một vòng cung, cạnh thành có một cái hồ, hồ có suối thông lên phía bắc, ba phía thành có núi.

Tuy nhiên không thể có một khu vực ven biển mà lại có thể có một con sông chảy vòng ôm lấy nó và chừa hướng còn lại cho biển được cả. Vậy thông tin ở hai chuỗi này mâu thuẫn với nhau.

Chúng ta hãy thử kiểm nghiệm chuỗi thông tin số 2, bởi vì một con sông có dòng chảy từ đông sang tây rồi vòng lên bắc rồi lại vòng sang đông như con sông Lô Dung thì khá là đặc biệt, nếu có thì phải tìm thấy bằng công cụ Google earth. Khu vực Việt Nam rõ ràng không có. Mặt khác, sông này được mô tả trong hệ thống sông Uất Thủy, vậy chúng ta hãy tìm kiếm ở phía nam Quảng Tây.

Con sông Ming Jiang được tìm thấy phù hợp với miêu tả về sông Lô Dung. Con sông này là một nhánh chính tạo nên sông Tả Giang, nhánh kia là sông Lijiang, hợp lưu của sông Bằng và sông Kỳ Cùng.

Sông Tả Giang đi qua phía bắc một cái hồ khá dài, là Shuikou Lake. Có suối chảy từ phía nam vào hồ, rồi từ hồ lại có suối theo hướng bắc thông vào sông Tả Giang. Bên cạnh hồ là thành phố Sùng Tả, ba phía có núi. Phía nam và phía bắc thì chính là con sông Lô Dung (Ming Jiang) và phần hợp lưu vòng qua như miêu tả ở trên.

Rõ ràng không thể có một sự trùng hợp ngẫu nhiên như vậy được. Vậy chuỗi thông tin thứ hai mô tả dựa trên thực tế, thành Khu Túc nằm ngay trên địa bàn nay là thành phố Sùng Tả. Lang Hồ là Shuikou Lake. Cổ Lang Cứu Phố là sông Mingjiang và cả đoạn sau khi hợp lưu với Lijiang, tức là Mingjiang là sông Lô Dung, Lijiang là sôngThọ Linh. Chúng ta cũng có thể nhận ra rằng núi Ẩn Sơn là dãy Thập Vạn Đại Sơn.

Vị trí này nằm cạnh trục thông thương từ xưa đến nay giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Thành phố Sùng Tả
Thành Khu Túc trong khu vực màu đỏ
Khu Túc nằm ở vị trí Chongzuo (Sùng Tả). Ming Jiang là sông Lô Dung. Cổ Lang Cứu Phố là Zuo Jiang (Tả Giang) Núi Ẩn Sơn là Shiwan Dashan (Thập Vạn Đại Sơn). Sông Thọ Linh là sông Lijiang, hợp lưu của hai con sông từ Việt Nam, chảy qua Longzhou (Long Châu)

Lịch Đạo Nguyên chép là thành Khu Túc xưa, có nghĩa là thời điểm đầu thế kỷ 6 thành đã về tay Trung Quốc và họ đã đổi sang tên khác.

Như vậy chuỗi thông tin thứ nhất là thông tin giả, đánh lạc hướng suy đoán về vị trí thành Khu Túc, do đó là vị trí nước Lâm Ấp. Người ta tìm vị trí Khu Túc ở gần bờ biển Trung Bộ Việt Nam. Tất nhiên là không thể tìm thấy vị trí thích hợp.

Bây giờ chúng ta khai thác thêm một số thông tin về Lâm Ấp.

Thủy Kinh chú chép vài đoạn về nước Lâm Ấp như sau: ""Lâm Ấp ký" nói: sang đò ở Tỉ Cảnh đi đến huyện Chu Ngô, sông ngách huyện Chu Ngô là biên giới ngày nay. Ở phía nam huyện Chu Ngô có người Văn Lang [...]. Phía nam huyện có suối Văn Lang cứu dòng dưới chảy thông. "Tấn Thư địa đạo chí" nói: Huyện Chu Ngô thuộc quận Nhật Nam, cách quận 200 dặm. Thời nhà Hán, dân huyện này không chịu nổi sự trưng thu thuế má của quan trưởng lại Nhị thiên thạch, dẫn Khuất Đô Kiền ra lập nước. "Lâm Ấp ký" nói: Khuất Đô Kiền là dân Di vậy. Sông ngách Chu Ngô ở trong thông với hồ Vô Lao. Suối Vô Lao Cứu thông với sông ngách Thọ Linh" (14)

 "Nước ấy dựng nước bắt đầu từ cuối thời Hán trong cuộc nổi loạn thời Sơ Bình, con người có lòng dạ khác, viên công tào huyện Tượng Lâm họ Khu, có con tên là Liên, đánh huyện ấy giết quan huyện lệnh, tự xưng là vua. Gặp buổi loạn ly, nước Lâm Ấp được thành lập, sau cứ nối đời, truyền ngôi cho con cháu (15)

Như vậy là trong cùng một sách có đến hai thuyết khác nhau về việc lập nước Lâm Ấp. Thuyết thứ nhất là dân chúng ở huyện Chu Ngô thuộc quận Nhật Nam (ở đây có thể hiểu là dân lập ra nước Lâm Ấp) không chấp nhận chế độ thuế má nặng nề, nên đã tôn một người bản địa lên làm chủ, lập nước. Biên giới ở sông ngách huyện Chu Ngô. Phía nam Chu Ngô, tức là phía Lâm Ấp, có người Văn Lang, có suối Văn Lang. Thuyết thứ hai có ghi niên đại, Sơ Bình là khoảng thời gian 192 - 195. Có nhân vật họ Khu, có con tên là Liên, thuộc giới cai trị nhà Hán đã lợi dụng thời cơ để phản bội và lập nên nước Lâm Ấp. Địa bàn Lâm Ấp vốn là Tượng Lâm, chứ không phải Chu Ngô như ở thuyết thứ nhất. Ngày nay người viết sử đều theo thuyết này, bỏ qua thuyết thứ nhất. Thế nhưng thuyết thứ hai lại có nhiều chi tiết không đúng với sử chép về thời nhà Hán.                                                                     

"Hậu Hán thư", quyển 86, phần Nam man truyện cho biết năm Vĩnh Hòa thứ hai (năm 137) người man di ngoài biên Nhật Nam, Tượng Lâm là bọn Khu Liên tấn công huyện Tượng Lâm, chiếm cứ Nhật Nam và Cửu Chân. Nhà Hán phong Chúc Lương làm Cửu Chân thái thú, Trương Kiều làm Thứ sử Giao Chỉ, sai đến nơi phủ dụ, lại yên. Các năm 145, 156, có các cuộc nổi loạn, nhà Hán đều phủ dụ được, năm 173 có nước ngoài biên giới của Nhật Nam đến cống, năm 178 Thứ sử Chu Tuấn lại phá được một cuộc nổi loạn lớn. Bản thân Khu Liên khó có thể sống đến năm Sơ Bình (192-195) để lập nước Lâm Ấp. Thế nhưng theo Thủy Kinh chú thì bố của ông Khu Liên này mới lập nước Lâm Ấp. Điều này thì lại càng không thể xảy ra. Sử sách đã biến Khu Liên từ người ngoại biên, đánh chiếm Nhật Nam rồi bị dẹp yên, thành người của giới cai trị nhà Hán ở Nhật Nam, tráo trở phản bội, lập nên một nhà nước Lâm Ấp ly khai.

Thuyết Lâm Ấp vốn là Tượng Lâm, do Khu Liên phản bội mà lập nên, thường được các bộ sử Trung Quốc nhắc lại, và hầu như đều gắn với câu chuyện Mã Viện dựng cột đồng. Đó là một cách để khẳng định cương giới Trung Quốc thời Hán đã đến tận nam trung bộ Việt Nam ngày nay. Mặc dù nội dung có vấn đề, nhưng rất phù hợp với tinh thần tạo chứng cứ để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ từ xưa đến nay của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Không thể một người viết lại đưa ra hai thuyết cho một vấn đề mà không có nghị luận gì. Có thể khẳng định thuyết thứ hai không do Lịch Đạo Nguyên viết, mà do người sau thêm vào, cài cắm các chi tiết với động cơ chính trị rõ ràng.

Chúng ta tạm ghi nhận vài điểm. Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký, của Nhạc Sử, khi Mã Viện dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, năm 40 đến 43 sau Công nguyên, thì tiến đánh nước Lâm Ấp, cách quận Nhật Nam 400 dặm. Bởi vì trước năm 40 thì người Hán vẫn phải duy trì chế độ Lạc tướng và chưa áp đặt được luật lệ với dân Lạc Việt, có nghĩa là người Hán chưa có khả năng cai trị trực tiếp, nên ghi chép của Nhạc Sử cho rằng họ bình định xong ở đó rồi mới vươn đến Lâm Ấp là đáng tin. Tức là Lâm Ấp chỉ bị đô hộ từ năm 43 trở về sau. Lấy thời điểm Lâm Ấp độc lập là cuối niên hiệu Sơ Bình, tức là năm 192, thì khoảng thời gian cai trị của nhà Hán là từ 43-192, tức là 150 năm. Địa bàn Lâm Ấp có một tộc người tên là Văn Lang, có khe nước tên là Văn Lang cứu. Trong sách vở xưa thì khái niệm khe cũng có thể chỉ một con sông.

Thủy Kinh chú chép "Phía tây, nước Lâm Ấp cách Quảng Châu 2500 dặm"(16)

""Lâm Ấp ký" nói rằng xứ này ở tận ngoài biên giới xa xôi của biển xanh rộng lớn, ở nơi cực xa ngoài vùng lưu phục, đất này ở ven biển xanh, tàu các nước cập bến khi đi qua" (17)

Từ Sùng Tả hay sông Ming Jiang đi xuống phía nam thì bờ biển chính là vùng đông bắc Việt Nam. Xét về đường thuyền đi ven biển thì 2500 dặm, hơn 1000 km, là tương đối phù hợp tính từ Quảng Châu đến vùng biển miền bắc Việt Nam.

Vùng bờ biển Đông Bắc Bộ nằm trên tuyến đường hàng hải giữa khu vực phía đông châu Á và thế giới bên ngoài. Các cửa sông ở đây còn là cửa ngõ miền bắc Việt Nam và nội địa phía nam Trung Quốc. Các lợi thế tự nhiên rõ ràng biến nơi này thành một nút đặc biệt quan trọng trên bản đồ giao thương thế giới thời cổ, giai đoạn con người không đủ phương tiện để tạo nhiều lộ trình như thời sau.

Tấn thư, quyển 97 – Tứ di chép bối cảnh Lâm Ấp giết viên Thái thú Nhật Nam là Hạ Hầu Lãm: "Trước đó, các nước ngoài cõi từng đem vật báu theo đường biển đến buôn bán, mà các Thứ sử Giao Châu, Thái thú Nhật Nam nhiều kẻ tham lợi, bắt nạt xâm chiếm họ, mười phần chỉ trả cho hai, ba. Đến đời Thứ sử Khương Tráng, sai Hàn Tập lĩnh Nhật Nam Thái thú. Tập định giá hàng hóa bớt hơn một nửa"(18). Khi Tập chết, triều đình Tấn thay bằng Tạ Trạc, rồi tới Hạ Hầu Lãm. Vẫn hà khắc như thế. Bởi vậy Lâm Ấp liên kết các nước, tập trung quân tấn công chiếm cứ Nhật Nam, giết Hạ Hầu Lãm lấy xác tế trời.

Ghi chép này phù hợp với thực tế đã nói ở trên, về con đường giao thương từ biển vào nội địa Trung Quốc, mà Nhật Nam án ngữ cửa ngõ. Theo đó thì Lâm Ấp có quan hệ giao thương đối với các bộ lạc ở phía tây nam Trung Quốc từ trước khi người Hán tiến xuống. Sau khi kiểm soát toàn bộ Lĩnh Nam, phía Trung Quốc thường tận dụng sức mạnh quân sự và lợi thế thị trường để bắt chẹt và chiếm đoạt, phía Lâm Ấp mất dần quyền lợi. Có thể nói mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là lý do chính khiến hai bên thường có chiến tranh.

Sử Trung Quốc ghi nhận rất nhiều cuộc chiến. Dù viết thế nào thì thực tế là họ không giải quyết được vấn đề Lâm Ấp, cho đến cuộc chiến của Lưu Phương dưới thời nhà Tùy. Viên tướng dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với người Đột Quyết, được phái xuống Giao Châu để dẹp Lý Phật Tử. Có thể là nhân dịp, cũng có thể đó chỉ là một kế hoạch nghi binh, bất thần tấn công Lâm Ấp.

Theo Tùy thư, quyển 82 - Nam man truyện: "Bấy giờ thiên hạ vô sự, quần thần nói Lâm Ấp có nhiều thứ kỳ bảo. Cuối niên hiệu Nhân Thọ, Hoàng thượng sai Phương làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, dẫn Khâm Châu Thứ sử Ninh Trường Chân, Hoan Châu Thứ sử Lý Vựng, Khai phủ Tần Hùng đem quân bộ kỵ hơn vạn người cùng vài ngàn người phạm tội đến đánh. Vua nước ấy là Phạn Chí dẫn quân cưỡi trên voi lớn ra đánh, quân của Phương bất lợi. Vì vậy Phương đào nhiều hầm nhỏ, lấy cỏ che lên trên, rồi cho quân khiêu chiến. Phạn Chí đem hết quân ra trận, Phương cùng giao đấu rồi giả thua. Phạn Chí đuổi theo, đến chỗ có hầm, quân phần đa bị rơi xuống hầm, tự hoảng sợ với nhau, quân bèn rối loạn. Phương thả quân ra đánh, đại phá được. Đánh nhau nhiều phen, Phạn Chí bèn bại, phải bỏ thành chạy trốn. Phương vào đô thành, thu lấy mười tám cái thần chủ trong miếu, tất cả đều bằng vàng, như vậy là đã được nước mười tám đời rồi vậy. Phương rút quân về, Phạn Chí quay lại đất cũ, sai sứ sang tạ tội, vì vậy lại triều cống không bỏ" (19)

Tùy thư, quyển 53 - Lưu Phương truyện cũng cho biết sự chuẩn bị là từ thời Nhân Thọ (kết thúc năm 604), nhưng thời điểm tấn công là đầu năm Đại Nghiệp (năm 605). Không có chi tiết làm bẫy voi, mà là lấy nỏ bắn voi bị thương, voi chạy ngược về khiến quân Lâm Ấp thua trận. Phương đi qua cột đồng Mã Viện, tiến xuống phía nam tám ngày, thì đến kinh đô Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp là Phạn Chí chạy ra biển. Phương thu lấy tượng vàng cùng thần chủ trong miếu, ô nhục cung thất, khắc đá ghi công rồi về. Sĩ tốt bị thũng chân mười phần chết mất bốn, năm, Phương cũng mắc bệnh mà chết. Vua Tùy hạ chiếu rằng: "Phương nghiêm tuân sách lược miếu đường, kính cẩn thi hành thảo phạt. Uống băng dấn thân, coi hiểm như thường. Phá địch thẳng tiến, xuất kỳ bất ý, kình nghê diệt sạch, sào huyệt lấp bằng. Chẳng cần nhọc thêm, đã yên hải ngoại. Đem thân vì việc nước, công trạng thực đáng khen. Nay ban tặng là: Thượng trụ quốc, Lư quốc công" (20)

Chúng ta thử xem xét vài vấn đề. Nhà Tùy có thực sự rảnh đến mức gọi là thiên hạ vô sự không? Lý do đánh là để thu lấy của cải có hợp lý không? Đánh được rồi sao không chiếm luôn lãnh thổ?

Sử sách cho thấy nhà Tùy là một triều đại có rất nhiều cải cách trong thời gian tồn tại rất ngắn của mình. Họ quá bận rộn nên không thể nói là đi đánh bên ngoài vì rảnh. Lý do đánh để thu của cải cũng không hợp lý, vì làm sao biết trước là đối phương không thể giấu được tài sản quý giá, tài sản thu về có đáng bù tổn thất không. Về lãnh thổ, nếu cho rằng Tùy Dạng Đế không có tham vọng lãnh thổ thì hoàn toàn sai lầm. Chính việc huy động quá sức trong nước để chiếm bằng được xứ Cao Ly là một nguyên nhân khiến nhà Tùy sụp đổ. Huống chi vị trí đặc biệt đắc địa như vậy mà lại bỏ. Ngoài ra, lời chiếu "chẳng cần nhọc thêm, đã yên hải ngoại" lại không hề thích hợp nếu vấn đề Lâm Ấp đã cơ bản được giải quyết.

Tân Đường thư, bộ sử do nhóm Âu Dương Tu soạn vào đầu thời nhà Tống, nhà Tống của họ Triệu sau nhà Đường, quyển 222 Hạ - Nam man (hạ), chép về nước Hoàn Vương: "Hoàn Vương, vốn là Lâm Ấp vậy. Cũng gọi là Chiêm Bất Lao, lại gọi là Chiêm Bà. Cách Giao Châu ba ngàn dặm đường đi biển [...] Niên hiệu Nhân Thọ thời Tùy, sai tướng quân Lưu Phương đến đánh, vua nước ấy là Phạm Phạn Chí trốn chạy, (nhà Tùy) lấy đất ấy chia làm ba quận, đặt quan trấn giữ. Vì đường sá cách trở khó qua lại, nên Phạn Chí lại tụ tập dư chúng, dựng thành ấp khác”(21)

Theo thông tin này thì đúng là nhà Tùy chiếm đất Lâm Ấp và lập ba quận. Vùng đất đó phải là cực nam lãnh thổ của họ, đó chính là An Nam hay Giao Châu thời Đường. 

Lâm Ấp và Phù Nam là hai quốc gia phủ hết vùng bán đảo Đông Dương. Theo Tấn thư , phần Lâm Ấp, thì đến đầu thế kỷ 4 vua Lâm Ấp là Phạm Văn đã kiêm tính được các nước xung quanh là Đại Kỳ Giới, Tiểu Kỳ Giới, Thức Bộc, Từ Lang, Khuất Đô, Càn Lỗ, Phù Đan, nên rất có thể địa bàn Lâm Ấp không chỉ giới hạn trong khu vực gọi là Văn hóa Đông Sơn, mà có thể phủ lên cả vùng Văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam, cũng như sang vùng núi phía tây. Việc đã tồn tại khá nhiều quốc gia nhỏ trong khu vực cũng phù hợp với đặc điểm địa hình có nhiều chia cắt dọc theo bờ biển Việt Nam. Ở di chỉ khảo cổ Bãi Cọi, gần cửa sông Cả, người ta đã phát hiện chứng cứ văn hóa Đông Sơn phủ lên cơ tầng Sa Huỳnh vào thời đầu Công nguyên. Như vậy, có thể Tân Đường thư đã chép đúng Hoàn Vương vốn là Lâm Ấp, tuy nhiên đó chỉ là phần Lâm Ấp còn lại mà thôi. (Vấn đề này đã được giải quyết qua bài viết Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành và những khuất khúc của lịch sử Việt Nam).





Khi hiểu lịch sử giai đoạn này, chúng ta có thể giải thích được việc phân chia giữa người Việt và người Mường, được coi là vốn cùng một gốc, mà theo các bằng chứng về ngôn ngữ học thì quá trình chia tách bắt đầu từ khoảng thế kỷ 7-8. Người Mường vốn là người Kinh ở đồng bằng di cư lên miền trung du hoặc các thung lũng, sau đó có sự gia nhập của những người Kinh chống lại chế độ nhà Tùy nhà Đường. Cộng đồng này ít chịu sự kiểm soát và cải biến của nhà nước cai trị như cộng đồng ở đồng bằng, trong khi chính họ cũng biến đổi vì môi trường sống đã khác, dần dần sự khác biệt càng lớn, trở thành hai dân tộc khác nhau.

Một vấn đề về ngôn ngữ, hiện khá gây tranh cãi, là phương ngữ vùng Quảng Nam. Hiện nay có hai giả thuyết chính, một là người từ Thanh Nghệ vào, giao thoa và biến đổi thành tiếng Quảng Nam, hai là cư dân ở đây vốn là người Chăm nhưng đã nói tiếng Kinh. Tuy nhiên, cả hai giả thuyết này đều đặt giới hạn trong khoảng thời gian ngoài 500 năm kể từ thời điểm Lê Thánh Tông thâu tóm Chiêm Thành. Tôi cho rằng khoảng thời gian đó là không đủ để hình thành một phương ngữ rất khác biệt như tiếng Quảng. Đặc biệt, khi xem xét lịch sử chữ quốc ngữ thì chúng ta có thể xác định được là ở đầu thế kỷ 17 người xứ Quảng đã nói tiếng Việt. Dựa vào những kết quả trên đây thì chúng ta có thể có một cách giải thích khác. Đó là ngôn ngữ từ phía Bắc Bộ đã thâm nhập xứ Quảng vào thời đại Lâm Ấp, khi vùng này được hợp nhất vào Lâm Ấp vào thế kỷ thứ 4, rồi lại trải qua một qua trình tách nhập trong suốt hơn mười thế kỷ. Hy vọng những nhà ngôn ngữ học thử xem xét theo hướng này.


Kinh đô của Lâm Ấp ở đâu?

Về vị trí kinh thành Điển Xung của nước Lâm Ấp, Thủy kinh chú [bản dịch của Nguyễn Bá Mão, xb 2005, trang 382 đến 386] có chép một số chi tiết như sau:

"Phía tây sông, tức là đô của Lâm Ấp, đóng ở Điển Xung, cách bờ biển 40 dặm […] góc tây nam thành là một dãy dài núi cao, liên tiếp nhau làm thành tấm màn chắn thiên nhiên, mà phía bắc liền với khe suối. Sông Đại Nguyên Hoài ra từ biên giới xa xôi, miền Na Na, có ba lớp bãi dài, núi Ẩn Sơn vòng phía tây, bao phía bắc, quành phía đông. Dãy núi này có suối ở phía nam, sông Tiểu Nguyên Hoài ra từ biên giới miền Tùng Căn, là khe nhỏ chảy từ trên núi Ẩn Sơn, vòng phía nam đi ngoằn ngoèo, ra phía đông hợp với sông Hoài, chảy vào Điển Xung. Thành này phía tây nam giáp núi, phía đông bắc trông xuống sông, lớp lớp ngòi, hào vòng quanh dưới thành. Ở ngoài phía đông nam, vì thành ở cạnh rừng rậm, chiều ngang từ đông sang tây dài, chiều dọc từ nam sang bắc hẹp, mé phía bắc đầu phía tây thì nghoẹo gãy cong vào. Chu vi thành là 8 dặm 100 bộ. […] Cửa tây thẳng đến hào hai lớp, đi quành lên phía bắc là lên núi, phía tây núi là sông Hoài. Cửa nam đi qua hào hai lớp, đối diện với lũy Ôn Công […] Cửa bắc cạnh bờ sông Hoài, đường dứt không thông được […] Phần giống như mặt sau của phía nam gọi là thành ở khu tây, trong thành có núi đá, thuận theo dòng sông Hoài […] Thành ấy phía ngoài thành là rừng cây có gai rậm rạp. các loại cây tạp um tùm, mây gai cuộn, trúc quế xinh, chen nhau mọc ngút trời”.

Ở phần trước, chúng ta đã biết núi Ẩn Sơn chính là dãy Thập Vạn Đại Sơn, chạy từ phía Lạng Sơn làm thành hình vòng cung lên phía Khâm Châu. Như vậy sông Tiểu Nguyên Hoài ở đây chính là sông Thương, nơi bắt nguồn và hướng chảy phù hợp với mô tả. Sông Đại Nguyên Hoài chảy từ biên giới xa, đó chính là nói về sông Đuống. Phần hợp lưu lại chảy vào Điển Xung, nhưng phía tây nam Điển Xung là núi, phía tây núi lại là sông Hoài, chứng tỏ phần gọi là chảy vào Điển Xung chỉ là một phân nhánh. Như vậy các phụ lưu và chi lưu của sông Thái Bình đều được coi là sông Hoài.

Tìm kiếm thực tế về một dãy núi dài ở phía tây sông thì quả có một chuỗi núi từ bờ nam sông Kinh Thầy chỗ đối diện với thị xã Đông Triều qua sông, kéo dài theo hướng đông nam qua thị xã Kinh Môn, ra đến chỗ đối diện thị xã Quảng Yên ở bên kia sông Đá Bạch, đã gần sát cửa Bạch Đằng. Tổng chiều dài khoảng 30km. Đây là chuỗi núi duy nhất ở bờ nam mạch sông Kinh Thầy - Đá Bạch.

Khu vực được khoanh màu đỏ trên hình là phù hợp với mô tả về thành Điển Xung. Bởi những chi tiết như sau:

  • Phía tây nam giáp núi, phía đông bắc trông xuống sông.                         Con sông này có Đường Bờ Sông chạy ngay bên cạnh. Dãy núi này gọi là núi An Phụ
  • Phía đông nam là hướng chính từ trong thành đi ra ngoài, chứ không thể là hướng nào khác. Chi tiết này phù hợp với ý “Ở ngoài phía đông nam, vì thành ở cạnh rừng rậm”
  • Vì khoảng cách giữa sông và núi khá gần (dưới 800m), nên với chiều dài thành là 8 dặm 100 bộ (khoảng 4km đến 4.5km) thì ắt phải “chiều ngang từ đông sang tây dài, chiều dọc từ nam sang bắc hẹp”.
  • Từ phía tây có con đường ngoặt lên phía bắc để lên núi. Đỉnh núi chính là vị trí đền Cao An Phụ trên bản đồ, cao 246m. Phía tây núi là sông, chính là sông Kinh Môn, khoảng cách không tới 3km. Phù hợp với mô tả về cửa tây của thành và ngọn núi.
  • Phía nam, trên tuyến đường Kim Xuyên có một con đèo qua núi An Phụ. Đó có thể là lũy Ôn Công. Phù hợp với mô tả về cửa nam của thành.
  • Phía bắc cạnh bờ sông. Ra hướng này thì có thể không có đường bộ, mà phải đi thuyền. Phù hợp với mô tả về cửa bắc.
  • Phía trong có một quả núi. Phần phía đông bắc của núi có dân cư ở. Khúc này có thể gọi là thuận theo sông Hoài, khoảng cách chỉ hơn 200m. Phù hợp với mô tả.
  • Phía ngoài là rừng cây rậm rạp. Điều này đúng luôn.
  • Hiện tại khu vực này cách biển khoảng trên 30km. Vào những thế kỷ đầu công nguyên cách biển khoảng ngoài 20km là hợp lý.

Xung quanh điểm này, bán kính chỉ chừng 20km là dày đặc các di chỉ khảo cổ.

Năm 1961 người ta phát hiện ra một số mộ thuyền ở Việt Khê, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, trong đó có chiếc dài tới 476cm, rộng 77cm, dày 60cm, được làm bằng thân cây khoét rỗng như chiếc thuyền. Hiện được coi là bảo vật quốc gia. Ngôi mộ chứa tới 107 hiện vật thuộc nhiều loại hình, như công cụ lao động và vũ khí chiến đấu, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí..., chủ yếu làm bằng đồng với kỹ thuật khá cao. Niên đại ngôi mộ là trước Công nguyên hàng thế kỷ, cho thấy ở khu vực này đã có một xã hội phát triển rất sớm.

Suốt hàng chục năm gần đây, người ta đã phát hiện ra nhiều ngôi mộ khổng lồ. Một trong số đó đã được đem về phục dựng lại một phần ở Bảo tàng tỉnh Hải Dương. Người trong ảnh là ông Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc bảo tàng tỉnh. Theo ông Hoành thì đó chưa phải là mộ lớn nhất. Có những ngôi mộ mà người ta tưởng là một quả đồi.

Ngôi mộ cổ được phục hồi một phần, ở Bảo tàng tỉnh Hải Dương

Mộ cổ ở thôn Vũ Xá, Kim Thành, Hải Dương

Đây chỉ có thể là mộ của những nhân vật đặc biệt của một quốc gia, chứ không thể là mộ của thường dân.

Thông tin về các di chỉ trong khu vực này có thể dễ dàng được tìm thấy qua tìm kiếm bằng Google với từ khóa “mộ cổ” kèm theo các từ như: “Kinh Môn”, “Kim Thành”, Việt Khê”, “Mạo Khê”, “Uông Bí”. Khu vực đó phải từng là kinh thành của một quốc gia giàu có, chứ không thể là mộ của những quan lại người Trung Quốc, vốn đa số đều ở thang bậc thấp.

Với những chi tiết phù hợp như thế này thì có thể khẳng định đây chính là kinh thành Điển Xung của nước Lâm Ấp.

Khu vực cụm di chỉ ở vùng Đông Bắc Bộ chính là một trung tâm sớm của người Việt.


Suy nghĩ về việc phục dựng lại tiến trình lịch sử của dân tộc.

Qua những phân tích trên đã bộc lộ những ngộ nhận lịch sử vô cùng lớn. Chúng ta không hề bị đô hộ từ thời Tần Thủy Hoàng, mà thời gian bị đô hộ thực tế chỉ gồm hai giai đoạn rời nhau, từ 43 đến 193 và từ 605 đến 905. Như vậy, không như nhiều nhận định phổ biến, về con số 50 vạn người phạm tội mà Tần Thủy Hoàng đưa xuống Lĩnh Nam cùng với khái niệm 1000 năm đô hộ, khiến chi phối khá mạnh nhận thức chung, cho rằng nguồn gốc người Việt là từ Trung Quốc. Về lãnh thổ, người Trung Quốc chưa hề kiểm soát đến khu vực Nam Trung Bộ nước ta như cách hiểu hiện nay. Cũng không có một nhân vật Khu Liện nào con cháu người Trung Quốc ly khai để lập nước Lâm Ấp ở đó cả. Những vấn đề liên quan đến nguồn gốc và lãnh thổ luôn luôn có độ nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều vấn đề, vì vậy cần được hiểu rõ. Dân tộc cần hiểu đúng lịch sử của mình để rút ra những kinh nghiệm chính xác, giúp tự tin để phát triển.

Trên nhiều bộ sử lớn của triều đình Trung Quốc có nhiều chi tiết về con người và xã hội Lâm Ấp.

Tấn thư, quyển 97 – Tứ di, chép: "Tục đất ấy, nhà cửa đều mở hướng bắc" và: "Đất ấy bốn mùa nắng nóng, không có sương tuyết". Lương thư, quyển 54 – Chư di, chép: "Tục nước ấy: Ở nhà sàn, gọi là "ư lan", cửa đều mở quay về hướng bắc ".

Trái với thực tế là nhà cửa ở miền bắc Việt Nam rất ít khi lựa chọn mở cửa về hướng bắc, để tránh gió lạnh mùa đông bắc chứ chẳng tục lệ gì cả.

Tấn thư chép: "Cư tang thì cắt tóc mai đi để thủ hiếu, đốt xác ngoài đồng". Nam Tề thư, quyển 58 – Man, Đông (Di), Nam Di, chép: "Khi cư tang thì cắt tóc, cho là hiếu. Thiêu xác chết giữa đồng gọi là táng". Lương thư chép: "Người chết thì thiêu ngoài đồng, gọi là hỏa táng". Tùy thư, quyển 82 – Nam Man chép: "Vua chết thì bảy ngày thì táng, người làm quan thì ba ngày, còn thứ dân thì một ngày. Đều bỏ xác vào hòm, gõ trống ca múa đưa đi, chở đến bến nước, chất củi mà đốt. Thu lấy những hài cốt còn lại, vua thì bỏ vào hũ vàng thả chìm xuồng biển, người làm quan thì cho vào hũ bằng đồng, bỏ ở cửa biển, còn thứ nhân thì bỏ vào hũ sành, thả xuống sông ".

Số lượng rất lớn những ngôi mộ cổ được tìm thấy chính là bằng chứng bác bỏ táng tục hỏa táng. Ở đây cũng có thể tồn tại một vài khả năng khác, là người ta đã lấy mô tả về kinh thành của một giai đoạn khác, khi kinh đô Lâm Ấp bị đẩy lùi về phía Quảng Nam, để gán cho kinh thành giai đoạn ở phía bắc, hoặc Lâm Ấp có nhiều kinh thành khác nhau. Dù sao thì các chỉ dấu địa lý cho thấy không có địa điểm nào ở phía nam có thể thỏa mãn các mô tả.

Với việc chỉ ra vị trí của Lâm Ấp thì chúng ta có thể thấy rằng những chi tiết trong các bộ sử Trung Quốc là những cái bẫy khiến chúng ta mặc định là Lâm Ấp chỉ ở về phía nam, là nước Chiêm Thành về sau, mà không nghĩ rằng phần phía bắc cũng là Lâm Ấp, mà đó mới là trung tâm. 

Mặc dù đã có rất nhiều hồ nghi về vấn đề Lâm Ấp trong giới nghiên cứu lịch sử, bởi cách hiểu nào cũng chứa đầy mâu thuẫn không thể giải quyết. Tuy nhiên, với những kết quả mới, chỉ ra việc gán ghép lịch sử, thì vấn đề này hoàn toàn có thể giải thích thỏa đáng. Bạn đọc có thể xem thêm chi tiết về vấn đề này trong bài viết: Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử.

Lâm Ấp có lẽ đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phía tây, từ Ấn Độ, trước khi người Hán tiến xuống phía nam rồi cai trị 150 năm, vì vậy ở đây không hẳn là một xã hội theo Ấn Độ giáo, mà đã có sự giao thoa văn hóa. 

Các thông tin trong sử sách Trung Quốc, như đã dẫn ở trên, cho biết rằng triều đại Lâm Ấp của các vị vua mang họ Phạm, vị đầu tiên là Phạm Hùng (nếu gọi theo đúng cách của người Việt thì là vua Hùng). , truyền được 18 đời. Theo chi tiết trong bản tâu của Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng gửi Tấn Vũ Đế, vào cuối thế kỷ 3: “Thủ lĩnh người Di là Phạm Hùng, đời nào cũng vào cướp phá, tự xưng làm vương”, thì các đời sau cũng xưng là vua Hùng. Chữ Phạm ở đây không phải chỉ tộc tính, mà mang nghĩa là vua chúa, người cõi trên. Không chỉ vua Lâm Ấp mà vua Phù Nam hay Ấn Độ cũng có thể là Phạm. Cũng rất có thể tên thực tế là Pó/Po, chữ là 鄱 (pó/pán) hoặc  嚩 (pó). Po trong tiếng Champa hay Bố trong tiếng Việt cổ cũng có nghĩa là vua. Rồi người ta chép lẫn 鄱 thành 范 hay 梵 (người Việt cũng đều đọc là Phạm), do chúng còn có âm fàn gần với pán. Hùng ( 雄) mang nghĩa là đàn ông, giống đực. Vậy Phạm Hùng hay Bố Hùng hay Vua Hùng nghĩa là vua ông, một cái tên chung cho các đời vua.


Về sách vở của Việt Nam, Tây Hồ chí, viết thời cận đại, có đoạn chép về Hồ Tây cho biết hồ có từ thời Hùng Vương, bấy giờ là một bến nằm giáp sông Hồng, thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến Lâm Ấp. Theo đó thì khái niệm Lâm Ấp có tồn tại thời Hùng Vương. Khi mà sử sách chính thống đều theo người Trung Quốc chỉ Lâm Ấp về phía miền trung Việt Nam, thì chi tiết này hẳn đã được lưu giữ trong ký ức dân gian hoặc ghi chép phi chính thống, chứ không thể tự nhiên người ta ghép vào được như thế.


Nếu chúng ta đã có phương hướng thì rất hy vọng có thể sưu tầm, chắt lọc được từ những chất liệu lưu giữ trong đời sống dân gian, những mảnh ký ức thực, nằm lẫn lộn với những thông tin giả, để góp phần phục nguyên hình ảnh của giai đoạn Văn Lang và rộng hơn nữa là tiến trình của dân tộc. 


Bài viết được công bố lần đầu vào ngày 06.02.2022. Bản này có sửa lại vài chỗ và rút gọn lại. Ngày 01.08.2022.

  

Chú thích

  1. An Nam truyện, Châu Hải Đường (chọn dịch), Nxb Hội nhà văn, 2018, trang 194,195
  2. Phạm Văn Ánh, http://yeuhannom.blogspot.com/2014/04/cuoc-khoi-nghia-hai-ba-trung-lan-gio.html
  3. An Nam truyện, sđd, trang 197-199
  4. An Nam truyện, sđd, trang 189
  5. An Nam truyện, sđd, trang 194-195
  6. An Nam truyện, sđd, trang 190
  7. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên (chú), Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh (sớ), Nguyễn Bá Mão (dịch), Nxb Thuận Hóa, 2005, trang 487
  8. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 396
  9. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr 41, 42
  10. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 396
  11. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 378,384,365
  12. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 358
  13. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 361,362
  14. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr 373,374
  15. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr377,378
  16. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr382
  17. Thủy kinh chú sớ, sđd, tr367
  18. An Nam truyện, sđd, trang 248
  19. An Nam truyện, sđd, trang 216,217
  20. An Nam truyện, sđd, trang 274,275
  21. An Nam truyện, sđd, trang 281,282


                                                                                                                      

Posted by Hoàng Cương at 8:02 PM No comments:
Email ThisBlogThis!Share to XShare to FacebookShare to Pinterest

Tuesday, January 12, 2021

Giáp Hải - Một con người trọn đời vì dân vì nước

 

                              Giáp Hải - Một con người trọn đời vì dân vì nước


                                                                                                    Hoàng Cương


Có những nhân vật từng đóng vai trò to lớn trong xã hội đương thời nhưng lại không có được sự ghi nhận tương xứng của đời sau. Giáp Hải là một trường hợp như thế.

Ông đỗ Trạng nguyên dưới thời nhà Mạc vào năm 1538, lúc mới chỉ 21 tuổi (1), và đảm nhiệm nhiều trọng trách suốt 48 năm, bao gồm cả lĩnh vực nội trị và ngoại giao, từng được giao kiêm quản cả lục bộ, tức là nhiệm vụ của tể tướng. Ông chỉ được về nghỉ ngơi vài tháng trước khi chết.
Dấu ấn đầu tiên là ở lĩnh vực ngoại giao. Vị tân Trạng nguyên được tham gia việc đối phó với cuộc xâm lược của nhà Minh. Quân đội Trung Quốc được huy động trong sáu tỉnh phía nam đã chuẩn bị tiến vào nước ta. Họ phát hịch để lôi kéo dân chúng dọc biên giới, đồng thời viên chủ tướng Mao Bá Ôn gửi thư sang để nắn gân triều đình nhà Mạc, nội dung đầy vẻ coi thường và đe dọa. Giáp Hải phúc đáp và kèm một bài thơ họa, tỏ rõ tiềm lực của người Việt và thái độ kiên quyết bảo vệ tổ quốc (2). Sự ứng xử khéo léo kết hợp cả cương nhu của triều đình nhà Mạc rốt cuộc đã hóa giải kế hoạch xâm lược vốn đã được chuẩn bị công phu của chúng.

Bài thơ nắn gân của Mao Bá Ôn:
"Dọc theo ruộng nước bám như châm
Rể bám vào đâu cũng chẳng thêm
Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ
Dám chi sạch tiết, dám chi tâm
Tụ rồi đã chắc chi khi tán
Nổi đó nào hay đến lúc chìm
Gặp trận trời cho cơn gió lốc
Quét tan hồ bể khó mà tìm"

Bài họa của Giáp Hải:
"Chen nhau vảy gấm khó luồn kim
Cành rễ liền nhau chẳng kể thân
Tranh với bóng mây trên mặt nước
Hé dung ánh nhật lọt dòng tâm
Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ
Muôn trận phong ba cũng chẳng chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lữ Vọng khó mà tìm." 

(Bản dịch của Hòa thượng Trí Thủ)

Giáp Hải tiếp tục đảm nhiệm nhiều công việc ngoại giao khi thực hiện tổng cộng năm lần đi sứ sang Trung Quốc, một con số có lẽ là kỷ lục của thời xưa. Ông cũng thường ra biên giới để giải quyết công việc với quan chức nhà Minh, ứng đáp tinh nhanh, rất được họ tôn trọng. Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì họ không gọi thẳng tên mà thường gọi là Giáp Tuyên phủ, ông còn viết trong bộ sách Lịch triều Hiến chương loại chí rằng: "Thời Mạc có trạng nguyên Giáp Hải công danh rõ rệt". Thượng thư Đỗ Uông làm bài văn tế lúc ông mất có một đoạn đại ý là "Trạng Kế đứng đầu tể tướng, vinh dự thay Nam bang; Giáp Tuyên phủ, lời gọi ấy vang danh vùng mạc Bắc."(3)
Những ứng đối ngoại giao và thơ văn đi sứ của ông được chép thành một quyển sách là Ứng đáp bang giao tập, hiện đã thất truyền. Tư liệu về ngoại giao nước ta từ xưa đến đương thời được ông tập hợp thành tác phẩm Cổ kim bang giao bị lãm. Công trình này hiện chỉ còn một phần rất nhỏ, được lưu trữ tại kho sách Hán Nôm, ký hiệu A.185, gồm 9 văn bản ngoại giao của Lê Lợi và triều thần gửi cho nhà Minh. Khi biên soạn bộ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục sử thần triều Nguyễn có chép bản trình bày của vua Lê Thánh Tông với nhà Minh về việc tấn công Chiêm Thành, họ nói là lấy từ sách Bang giao bị lãm của Giáp Hải. Như vậy có thể Cổ kim bang giao bị lãm trước đây vẫn được lưu trong thư khố của các triều đình Lê Trịnh rồi đến Nguyễn nhưng không được phép phổ biến ra ngoài. Sự mất mát bộ tư liệu này là một điều rất đáng tiếc.
Việc một viên trọng thần cứng rắn của triều đình nhà Mạc thường ra biên giới để bàn việc hẳn là liên quan đến vấn đề lãnh thổ. Theo ghi chép trong sách Minh Thực lục thì giai đoạn nhà Minh chuẩn bị tấn công nước ta đã có rất nhiều khu vực biên giới xin theo về phía họ. Về sau bên phía ta đã tranh đấu ngoại giao rất bền bỉ nhiều năm trời. Sự tranh đấu có lúc được đẩy lên bằng việc phía ta điều quân lên biên giới khiến khu vực phía nam Trung Quốc rúng động (4), tuy nhiên đây là điều hãn hữu bởi vì nhà Mạc thường xuyên bị cầm chân bởi nội chiến. Hoàng đế nhà Minh phải lệnh trả lại hơn 120 thôn để giải quyết rốt ráo việc tranh chấp (5). Kết quả đạt được, vì vậy chủ yếu là nhờ công tác đấu tranh ngoại giao mà người đóng vai trò lớn nhất chính là Giáp Hải.
Tuy có vai trò to lớn trong triều đình nhưng Giáp Hải tỏ ra không tha thiết danh lợi, ông luôn cho rằng mình đã quá đầy đủ. Nhà vua rất kính trọng ông, phong tước tới Quốc công mặc dù ông nhất mực từ chối. Vua Mạc Mậu Hợp từng ban cho ông lá cờ thêu đôi câu đối "Trạng đầu Tể tướng Đẩu Nam tuấn/ Quốc lão Đế sư thiên hạ tôn", nghĩa là Trạng nguyên, Tể tướng như sao Bắc Đẩu trời Nam sừng sững/ Quốc lão, thầy vua, được thiên hạ tôn vinh.
Những năm cuối đời gia cảnh gặp nhiều bất hạnh, các người con đều lần lượt qua đời khiến ông phải chịu cảnh cô đơn trong tuổi già, và có thể cả vì chán nản chốn quan trường đã bước vào giai đoạn thối nát nên ông nhiều lần xin về hưu, nhưng chỉ được toại nguyện ít tháng trước khi mất. Mặc dù vậy ông vẫn còn đặt hy vọng vào vua Mạc Mậu Hợp, vốn lúc lên ngôi còn phải được quan phụ chính ẵm để thiết triều, đã đến tuổi trưởng thành có thể cải thiện được tình thế, cứu vãn xã tắc.
Năm Đinh Sửu (1577) ông dâng sớ nêu ra những điều nguy hại. Việc nghi lễ thì cẩu thả, thiếu thành kính. Quanh vua thì toàn kẻ nịnh nọt và dỗ dành chơi bời. Việc ra vào cung cấm lẽ ra phải nghiêm túc thì lại dễ dãi. Việc tuyên bố mệnh lệnh và thu nạp lời can gián bị che lấp không thông. Trên dưới phần lớn đều ham lợi, nhũng lạm quan tước, chiếm đoạt ruộng đất, sách nhiễu và mua rẻ của dân. Khi có sắc chỉ thì dựa vào đó mà sách nhiễu, khi có kiện cáo to nhỏ thì đòi tiền đút lót, không biết đâu là cùng. Ông cho rằng dân chúng bị khổ sở khó lòng sống được thì nước không có chỗ để nương tựa. Tướng súy thì mỗi người mỗi ý, trái ngược nhau, quân sao thắng được. Đấy là những điều đáng sợ. Xin nhà vua hãy tự răn, biết lo sợ để thay đổi, nếu không thì sẽ có ngày đến nguy vong, không sao giữ được nữa. (Tóm tắt theo nội dung các bài sớ của Giáp Hải, được Lê Quý Đôn chép trong sách Đại Việt Thông sử)

Năm Tân Tị (1581) Giáp Hải lại dâng sớ, lấy việc thiên tai và nỗi cực khổ của dân chúng để cảnh tỉnh nhà vua. Ông khuyên rằng phải tha bớt cho dân việc tạp dịch và bắt lính, tránh làm cho dân chúng khánh kiệt. Phải giữ được lòng dân. Vua biết sợ hãi thì được phúc, nay lại muốn tai biến tiêu tan nhưng lại không sợ hãi để tu tỉnh thì làm thế nào cho được phúc? Vua phải biết kính sợ trời, thế thì không nên chơi vui phóng túng. Hãy tuyệt đường nịnh hót, hãy chấm dứt tham lợi, dạy bảo các quan, chấn chỉnh những công việc đã bỏ, xuống sắc cho các triều thần bàn bạc thi hành mọi điều khoan tuất cho dân... Phải chấn chỉnh việc binh bị cẩn thận để giữ yên được nước. Xin nhà vua tôn trọng gốc nước, cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm khốn dân, giúp đỡ mà đừng làm hại dân, dè dặt chứ không dùng hết sức của dân, nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch tức là thi hành chính sách trị bình vậy.

Tháng 7 năm Bính Tuất (1586) Giáp Hải dâng sớ khuyên vua Mạc Mậu Hợp tìm cách cầu phong để nhà Minh công nhận là Quốc vương. Vốn việc bị hạ xuống Đô thống sứ là điều bất đắc dĩ mà Mạc Thái Tổ phải nhận để tháo ngòi nổ chiến tranh. Sau đó vì hoàn cảnh trong nước có nội chiến mà vua thì nhỏ tuổi nêu không có điều kiện vận động với phía nhà Minh thay đổi. Vị lão thần cho rằng đó là điều phải làm ngay để quốc thể được long trọng.
Tháng sau, Giáp Hải xin về nghỉ và lại dâng sớ chỉ ra cho nhà vua rất chi tiết những điều cần tránh và những việc cấp bách cần làm ngay để củng cố việc binh bị nhằm bảo vệ chính quyền. Vua khen ngợi và cho làm việc tại tư dinh.
Đến tháng 11 Giáp Hải lại khẩn thiết xin nghỉ, vua phải chấp nhận. Ông làm thơ từ biệt đồng liêu, thể hiện ước muốn được có những tháng năm nhàn hạ hưởng phúc lành nơi thôn dã (6). Nhưng tháng 12 thì ông mất.
Tư tưởng xuyên suốt của Giáp Hải là trọng dân, xác định chế độ phải tạo phúc cho nhân dân. Điều đó còn được đúc kết trong một câu thơ Thái bình thiên tử thái bình dân (bài Phụng sắc Bắc sứ thuật hoài), nói lên sự thái bình của thiên tử không thể tách rời khỏi sự thái bình của dân chúng. Như vậy, sự dấn thân của ông không chỉ phụng sự riêng cho một triều đại mà là cho cả dân tộc.

Những lời khuyên tâm huyết của Giáp Hải đều được vua Mạc khen ngợi, nhưng nhà vua hoặc chưa kịp theo hoặc không có khả năng làm theo. Nhà Mạc thất bại ở Thăng Long sáu năm sau cái chết của ông.

Giáp Hải kính trọng sự nghiệp giải phóng dân tộc của Lê Thái Tổ, qua những bài thơ đầy cảm khái được viết trong một dịp về thăm đất Lam Sơn, viếng mộ vua Lê, tuy vậy ông lựa chọn một lòng phục vụ triều Mạc, một triều đại đã vận hành đầy đủ chức năng của một nhà nước, chứ không phải phe Lê Trung hưng của những thế lực muốn mượn danh nhà Lê để dấy động can qua. Khi Giáp Hải cầm quân lên thu hồi được thành Lạng Sơn, vốn bị quân đội phù Lê kiểm soát một thời gian, phía nhà Minh hỏi quân vừa chiếm thành Lạng Sơn vừa rồi là quân họ Mạc hay quân họ Lê, thì ông phúc đáp rằng "Quân chiếm thành vừa rồi là quân giặc" (Theo Đại Việt Thông sử).

Dưới triều đại mới, những dấu ấn của thời đại nhà Mạc đã bị tìm cách xóa bỏ. Sự nghiệp của Giáp Hải cũng chịu chung số phận. Tác phẩm của ông hiện còn rất ít, kể cả số chỉ được kể tên cũng đã là ít ỏi, không tương xứng với tâm huyết, trải nghiệm và khả năng tác thuật. Những tham luận về chính sự của ông chỉ được tập hợp gói gọn trong những năm cuối đời, dường như với mục đích minh họa cho giai đoạn suy kém của chế độ nhà Mạc.
Thân thế của ông cũng bị thiên hạ mặc sức hư truyền. Trong rất nhiều bộ dã sử người ta đã chép rằng Giáp Hải là con hoang của một bà hàng nước tứ cố vô thân và một người chăn vịt, hoặc một người phu bỏ trốn. Lúc ấu thơ, ông bị một người thương buôn hiếm con bắt trộm về nuôi rồi lớn lên thành tài. Lại có nhiều dị bản khác hẳn nhau về câu chuyện trạch cát liên quan đến mộ thân phụ ông. Thực tế, ông Giáp Hà, hiệu là Khánh Sơn tiên sinh, mà người ta coi là người phú thương bắt trộm ông về nuôi, chính là bố ruột ông, có tới ba người con trai. Tiên sinh "giải quyết công việc sáng suốt, nhà sống bằng nghề nông và đọc sách. Vườn ruộng rộng hơn trăm thửa, giàu có mà hay làm điều nhân, tích được của mà hay tán phát. khi binh hỏa tàn hoang, rộng lòng đem thóc của nhà ra phát cho người nghèo, cứu vớt kẻ khó, khiến mọi người đều khâm phục nghĩa cử... ", lại được vua ban chức Hương tuyển, sung Phủ sinh. Giáp Hải là con do bà vợ thứ của ông Giáp Hà sinh ra. Trên tấm bia hộp, phần nắp gồm 111 chữ được Giáp Hải viết khi chuyển mộ cha lên núi Cốc Lâm vào ngày Nhâm Dần, tháng 8 năm Hoàng triều Diên Thành thứ 4 (1581), phần chính gồm 553 chữ được viết ngay khi mai táng Khánh Sơn tiên sinh vào năm 1549, cho biết chi tiết điều đó. Tấm bia được phát hiện năm 1997 khi người dân địa phương đào đất làm đường (7). Hậu thế đã nhiều lần nhờ những tấm bia đá được phát hiện mà nhìn nhận minh bạch những khuất lấp hay mơ hồ của lịch sử, vốn là kết quả của sự thiếu ý thức bảo quản di sản tinh thần hoặc thiếu tôn trọng sự thật vì lý do nào đó.
Tư duy phong kiến, bảo thủ và hẹp hòi phe cánh tồn tại lâu dài trong dân tộc là một cản trở lớn cho việc ghi nhận khách quan công bằng về các thời đại và các nhân vật lịch sử.
Chính vì vậy, một con người có đủ tài năng, nhân cách và có ngót nửa thế kỷ cống hiến cho đất nước đã không được hậu thế coi trọng đúng mức. Cho tới nay, ngay tại thủ đô Hà Nội dù đã có tên đường cho hầu hết các danh nhân đất nước nhưng lại chưa có con đường mang tên Giáp Hải.
Một tin đáng mừng là ngày 09/10/2020 Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã có nghị quyết về việc đặt tên đường cho một số danh nhân, trong đó có Giáp Hải.
Dù sinh thời ông vẫn thường từ chối vinh danh, nhưng sự nhìn nhận này là cần thiết, phản ánh sự thay đổi tích cực về nhận thức lịch sử.


* Tác giả bài viết sử dụng nhiều chi tiết trong công trình Trạng nguyên Giáp Hải của tác giả Lâm Giang, nguyên Trưởng phòng nghiên cứu Viện Hán Nôm. Xin ngỏ lời tri ân.

13.01.2021


Trích dẫn và chú thích:

1. Tài liệu Đại Việt Thông sử của Lê Qúy Đôn chép bài sớ của Giáp Hải dâng lên vua Mạc Mậu Hợp vào năm 1586, trong đó ông xin về hưu vì đã bảy mươi tuổi. Theo cách người xưa tính cả tuổi mụ, cộng thêm một năm, vậy năm sinh của ông là 1517. Hiện cũng còn có một số thông tin khác biệt về ngày sinh và tuổi thọ của Giáp Hải.
2. Thivien.net
3. Lâm Giang, Trạng nguyên Giáp Hải, Nxb Khoa học xã hội, 2009, trang 118
4. Minh Thực lục, Hồ Bạch Thảo dịch, Nxb Hà Nội, 2010, Tập 3, trang 234
5. Minh Thực lục, Hồ Bạch Thảo dịch, Nxb Hà Nội, 2010, Tập 3, trang 240,241,242
6. Lâm Giang, Trạng nguyên Giáp Hải, sđd, tr148
7. Lâm Giang, Trạng nguyên Giáp Hải, sđd, tr247 đến 256








Posted by Hoàng Cương at 7:44 PM No comments:
Email ThisBlogThis!Share to XShare to FacebookShare to Pinterest

Saturday, October 10, 2020

Về sự kiện biên giới năm 1540 giữa nhà Minh và nhà Mạc

 

Đặt vấn đề:

Từ trước cho đến gần đây chi tiết về sự kiện biên giới năm 1540 giữa nhà Minh và nhà Mạc được chép trong sử Việt khá ít ỏi, mặc dù đây là một sự kiện lớn, chưa bao giờ hết thu hút sự quan tâm của người Việt.

Sở dĩ có tình trạng như thế là bởi nguồn ghi chép từ nhà Mạc đã bị hủy hoại cùng với sự thất bại của triều đại này. Mặt khác, do ý thức đối kháng với nhà Mạc nên các nhà viết sử dưới thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn có xu hướng chỉ đưa ra một số thông tin phục vụ việc bôi nhọ đối phương, thay vì đưa ra một bức tranh toàn cảnh về sự kiện.

Ngày nay, với việc chọn dịch và xuất bản một phần bộ sách Minh Thực lục, phần liên quan đến Việt Nam, vốn nằm rải rác trong bộ sách rất đồ sộ chứa những ghi chép đương thời của triều đình nhà Minh, đã hé mở rất nhiều thông tin về diễn biến. Mặt khác, đã có thêm nhiều nghiên cứu về nhà Mạc ở Việt Nam, đưa ra những nhận định mới. Vì vậy sự kiện biên giới năm 1540 cần phải được xem xét lại một cách đầy đủ hơn.

Trong bài viết này, người viết sử dụng bản dịch Minh Thực lục của Hồ Bạch Thảo, do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2010. Để người đọc tiện theo dõi, tác giả bài viết sử dụng ngày tháng đã được dịch giả chuyển đổi sang dương lịch. Ví dụ (8/9/1539) tương đương với nội dung trên bản dịch là: "ngày 26 tháng 7 nhuận năm Gia Tĩnh thứ 18 [8/9/1539]."


Diễn biến bên phía Trung Quốc

Theo Minh Thực lục thì Minh Thế tông bắt đầu tập trung về vấn đề An Nam từ cuối năm 1536. Nhà Minh quyết định chinh phạt với lý do An Nam từ lâu bỏ việc triều cống. 

Ghi chép của nhà Minh còn cho biết phái đoàn Trịnh Duy Liêu do Nguyễn Kim cử sang cáo nạn chỉ đến được kinh đô nhà Minh vào đầu năm 1537, bởi hành trình rất khó khăn. 

Tức là họ đến sau khi nhà Minh có chủ trương đánh An Nam.

Mặt khác tài liệu này cũng cho biết lý do nhà Mạc không sang triều cống là do quan giữ ải của phía nhà Minh ngăn cản. Lý do ngăn cản được viên Tả thị lang bộ Hộ Đường Trụ nói rõ, là quan giữ cửa ải thấy tên trên tờ biểu không đúng nên không cho qua. Có thể hiểu là họ không cho nhà Mạc cơ hội trình bày.

Vậy lý do ban đầu là trừng phạt An Nam vì không đến triều cống. Chiêu bài giúp khôi phục nhà Lê chỉ là cái cớ được thêm vào sau. Có thể Minh Thế tông muốn nhân cơ hội để thôn tính An Nam.

Đây là xu thế tự nhiên và đã qua kiểm nghiệm của lịch sử. Không phải vô cớ mà nhiều triều thần nhà Minh như Tả thị lang bộ Hộ Đường Trụ, Tả thị lang bộ Binh Phan Trân, Đề đốc Lưỡng Quảng Phan Đán, Tuần án Quảng Đông Dư Quang đã đề cập rằng An Nam là xứ người Trung Quốc không thể cai trị trong lời can ngăn Minh Thế tông.

Tuy quy mô nguồn lực lớn hơn rất nhiều so với An Nam nhưng phía Trung Quốc cũng có những vấn đề khó khăn.

+ Sự chia rẽ ý kiến. Có những quan điểm cho rằng trong nước khó khăn, không nên bày việc đánh An Nam, hoặc nói không cần phải đánh An Nam mà để nước đó tự ổn, hoặc nói không nhất thiết phải bênh vực nhà Lê mà cứ chấp nhận cho nhà Mạc triều cống, hoặc viện dẫn những thất bại trước kia để nói rằng An Nam là xứ có chiếm được rồi cũng phải bỏ chứ không thể cai trị được...Minh Thế tông phải quyết liệt trừng phạt những người phản đối. Lột chức và cho thôi việc Tả Thị lang bộ Binh Phan Trân, cắt bổng Giám sát ngự sử đạo Hồ Quảng Từ Cửu Cao hai tháng, đoạt lương Tuần án Quảng Đông Ngự sử Dư Quang một năm. Y còn trách rằng đã nghe được các khanh sĩ đại phu bàn bạc riêng với nhau là không cần đánh, những người có trách nhiệm mà không chủ trì, hiệp lực, việc gì cũng ủy cho hội nghị.

+ Khả năng huy động và sự tự tin. Vấn đề này có thể được hé lộ qua lời tâu của Đề Đốc Lưỡng Quảng Thị lang bộ Binh Thái Kinh, rằng để tiến binh thì ước tính cho 30 vạn binh, trong một năm cần 160 vạn thạch lương thực, việc đóng thuyền, mua ngựa, khao thưởng, khí giới, các phí tổn khoảng 70 vạn lạng bạc. Quân lính tại Lưỡng Quảng không kể lính canh gác tại địa phương thì có không quá 12 vạn, chỉ đủ 1/3 nhu cầu. Lương thực tại đây có thể huy động không quá 40 vạn thạch, chỉ đủ 1/4 nhu cầu. Tiền bạc lấy được từ các ngân khố chỉ hơn 30 vạn, chỉ khoảng một nửa. Nếu trong một năm việc binh chưa xong thì con số không dừng tại đó.

 Trước những khó khăn, Minh Thế tông từng hoãn binh và lựa chọn phương án khác. Y quyết định cho người đi sứ An Nam, nói là báo tin về việc tôn vinh ông nội của mình, tuy nhiên sứ mệnh thực tế của viên sứ giả lại không phải như thế. Sứ giả Hoàng Oản được sắc chỉ điều tiết tất cả các quan ở các tỉnh Vân, Quý, Lưỡng Quảng, lại được cấp cho ấn Quan phòng để tiện nghi hành sự. Lại xin xem các tờ biểu của An Nam được lưu lại để nhằm phân biệt con giấu thật của An Nam mà Mạc Đăng Dung và Lê Ninh đều nói là mình đang giữ. Oản lại nói rằng chỉ lo thiệt hại cho quốc gia chứ thân mình không đáng lo, lại xin nhiều đặc ân, rốt cuộc vẫn tìm nhiều cách để trì hoãn. Những chi tiết đó cho thấy nhiệm vụ thực sự của sứ đoàn này rất lớn, có thể là tìm cách chủ trì việc phân ngôi vị ở An Nam hoặc nhân thể không chế mà đoạt lấy nước. Dĩ nhiên đây là nhiệm vụ nguy hiểm, bởi vì nhà Mạc buộc phải chính thức kháng cự, nhưng nếu như vậy thì Minh Thế tông lại loại bỏ được tâm lý phản đối trong nội bộ nhà Minh. Hoàng Oản, vốn đã được thăng lên Thượng thư bộ Lễ để làm chánh sứ, có lẽ đã ý thức được sự nguy hiểm với bản thân, nên không chịu đi, rút cục bị cách chức.

Sau khi trấn áp những ý kiến phản đối thì chỉ còn ý kiến ủng hộ. 

Minh Thế tông quyết định gấp rút xuất binh, Đáp ứng mọi lời xin về điều động quân dân và lưu giữ tiền thuế để phục vụ đánh An Nam, lệnh giới hạn ba ngày cho mọi tấu phúc và phán rằng cha con Phương [Đăng] Doanh phải bị chết. (31/7/1540)

Y còn cao hứng làm thơ tiễn đại tướng cầm quân. Nội dung bài thơ này, theo một bản dịch tiếng Việt:

"Đại tướng Nam chinh khẳng khái sao
Lưng đeo sáng quắc nhạn linh đao
Gió lay trống trận sơn hà động
Chớp nhoáng cờ đồn nhật nguyệt cao
Trời thẳm kỳ lân sinh giống sẵn
Hang sâu kiến cỏ trốn đằng nào?
Thái bình khi chiếu đòi về nước
Trẫm cởi dùm khanh áo chiến bào”. (1)

Nội dung chỉ nói đến việc chinh phạt chứ không đề cập gì đến giúp đỡ nhà Lê. Nếu không phải mục đích chinh phục nước An Nam để được ghi nhận công nghiệp vượt các triều trước thì khó mà tìm được lý do xác đáng để giải thích cho sự quyết tâm và hứng khởi của Minh Thế tông đối với cuộc nam chinh này.

Cừu Loan và Mao Bá Ôn tâu rằng nghe nói Phương Doanh đã chết, nếu An Nam không chịu phục tùng ngay thì hai kế hoạch đánh và chiêu phủ phải tiến hành. Cần điều quân Quảng Đông 36.000 người, Quảng Tây 75.000 người, quân Thổ tại các ty Tuyên ủy Vĩnh Thuận, Bảo Tĩnh thuộc Hồ Quảng, quân thủy tại Chương Châu, Tuyền Châu thuộc Phúc Kiến. Các chánh quan tại các ty, phủ, châu, huyện tại Lưỡng Quảng và Vân Nam được miễn về chầu tại triều, chuẩn bị tiến quân. Minh Thế tông đều chấp nhận.

Nhà Minh đã quyết tâm lớn để đánh An Nam, chứ không phải là hư trương thanh thế như nhiều bộ sử ở Việt Nam và Trung Quốc chép sau này, vì thiếu thông tin hoặc lý do nào khác. Dân chúng phía nam Trung Quốc cũng vì thế mà lao khổ. Sau khi bãi binh, tháng 5 năm 1541 Minh Thế tông đã ban chiếu mệnh rằng các xứ Lưỡng Quảng, Vân Nam và lân cận, nhân việc An Nam chinh điều chuyển vận, dân chúng lao khổ, các quan tuần phủ phải lưu ý chiếu cố...(15/05/1541)

Riêng đạo quân từ Lưỡng Quảng do Cừu Loan và Mao Bá Ôn trực tiếp chỉ huy quân số đã vượt xa con số 111,000 người. Đạo quân từ Vân Nam và Quý Châu không được Minh Thực lục cho biết quân số, nhưng thường được nhắc tới như một lực lượng quan trọng, được chỉ huy bởi những người có vai vế cao. Sách này ghi: "Binh Vân Nam tập hợp riêng, từ thác Liên Hoa chia làm ba cánh, do Kiềm quốc công Mộc Triều Phụ, An Viễn hầu Liễu Tuần, Đề đốc quân vụ thị lang Thái Kinh, Tuần phủ Đô ngự sử Uông Văn Thịnh xếp đặt", chứng tỏ cũng là đạo quân lớn. Phía nhà Minh còn được hỗ trợ từ các đạo quân xứ Lão Qua đánh từ mặt Tây Bắc, quân Vũ Văn Uyên từ mặt Bắc, quân Lê Ninh và Nguyễn Kim từ mặt nam, cùng các lực lượng lẻ tẻ khác ở dọc biên giới. 


Tình hình An Nam

Sử sách hầu như không còn ghi chép về sự chuẩn bị của nhà Mạc cho chiến tranh, mà chỉ có những ghi chép về xã hội trị bình dưới thời Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh. 

Không chỉ có sự thừa nhận trong Toàn Thư về một xã hội "đêm không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi", mà tận cuối đời Lê Trung hưng và đầu đời Nguyễn vẫn còn những nhà khảo cứu chép rằng "Bấy giờ được mùa, nhà no, người đủ, trong nước gọi thời ấy là trị bình..." - Phan Huy Chú (2), hoặc: "Vả lại cái đức chính của đời Minh Đức, Chính nhà Mạc vẫn còn cố kết nhân tâm, chưa quên hết" - Phạm Đình Hổ nói về dư âm của nhà Mạc (3). 

Mặt khác, Mạc Đăng Dung xuất thân là một Võ cử, cuộc đời thành công với binh nghiệp, tất phải có ý thức và năng lực phát triển sức mạnh quân đội. Về ngoại giao, sau khi trình bày được với nhà Minh, nhà Mạc đã nhận tội chuyên quyền, xin tha tội, xin cống nạp đầy đủ, nhưng đã quyết định không dâng nạp bản đồ theo yêu cầu của nhà Minh, chứng tỏ họ đã đoán được ý đồ thực sự của đối phương là vẫn sẽ tiến công. Tính từ thời điểm lên ngôi thì nhà Mạc đã có hơn mười năm để củng cố đất nước và chuẩn bị đối phó.

Nhà Mạc đặc biệt chú trọng về thủy quân, chỗ dựa đã chứng tỏ rất hữu hiệu cho chế độ, kể cả về sau, khi đã ở vào giai đoạn suy yếu.

Giai đoạn này thủy quân nhà Minh lại suy kém, sau hàng chục năm thi hành chính sách cấm biển. Người Việt tận dụng được cơ hội này để trở thành một thị trường thay thế và trung chuyển, trong một giai đoạn giao thương hàng hải bắt đầu đột phá, năng lực hoạt động trên sông biển vì thế phát triển. Hoạt động doanh thương phát triển cũng khiến nhà nước bổ sung được nguồn thu khiến giảm nhẹ thuế khóa cho nông dân mà vẫn có ngân khoản cho việc binh bị. Một chi tiết về sau, chứng tỏ năng lực hạn chế của thủy quân nhà Minh là chỉ với lực lượng của viên tướng Phạm Tử Nghi, ly khai triều đình nhà Mạc, đã có thể "mang quân cướp phá hai châu Khâm, Liêm; bắt chỉ huy Tôn Chính, giết bách bộ Hứa Trấn; cả miền lãnh hải dao động" (10/5/1549 ), đến mức sự việc trình lên hoàng đế nhà Minh khiến y phải yêu cầu nhà Mạc xử lý. Ưu thế về thủy quân rõ ràng nghiêng về phía nhà Mạc.

Khi nhà Minh sửa soạn đánh An Nam thì nhiều khu vực ở biên giới dao động, ngả theo phía họ. Minh Thực lục chép rằng các thổ quan và hào mục An Nam như Trần Tông, Hoàng Công Cán, cùng các thổ quan tại biên giới như thủ lĩnh Đào Tiên tại châu Thủy Vĩ và những người khác đều tình nguyện nội phụ. Vũ Văn Uyên chiến thắng quân nhà Mạc, chiếm được quan ải và doanh trại. Văn Uyên được nhà Minh ban y khăn, dây đai, chương phục quan tứ phẩm và tiền bạc. Tuy nhiên những lực lượng này chỉ có thể gây khó khăn cho nhà Mạc ở biên giới, khó có khả năng tiến sâu.

Khu vực Thanh Hóa khi nhà Mạc lên thì Nguyễn Kim và Lê Ý đã khởi binh chống lại, nhưng Nguyễn Kim thất bại phải chạy sang Ai Lao, còn Lê Ý đã bị bắt sau chưa đầy một năm bởi vì quân lương đều ít, chứng tỏ dân chúng ít theo lực lượng nổi dậy. Thế nhưng khi quân Minh sửa soạn đánh An Nam thì lực lượng Lê Trung hưng đã có được nhiều lợi thế. Toàn Thư ghi nhận năm 1537 viên trấn thủ bảy huyện cho nhà Mạc ở Thanh Hóa là Lê Phi Thừa đã cướp phá tam ty và dẫn quân sang Ai Lao theo Lê Ninh. Theo Toàn thư thì quá trình chiếm lại bắt đầu từ năm 1539. Tuy nhiên, đầu năm 1538 viên Tri châu Khâm Châu đã tâu lên Minh Thế tông về việc Mạc Đăng Dung vừa mới thua Lê Ninh và Vũ Văn Uyên. Nếu tin tức bên phía nhà Minh là chính xác thì có thể không phải Lê Phi Thừa chạy sang Ai Lao mà y mở cửa đón lực lượng Lê Ninh vào, giao tranh và thắng quân nhà Mạc ở Thanh Hóa. Năm 1541 Phi Thừa bị Nguyễn Kim sai người bóp cổ chết với lý do là bất bình, nói ra những câu phẫn uất, ngày càng kiêu hoạnh. Có thể y dám kiêu hoạnh vì đã có công khơi mào cuộc nội chiến giúp nhà Lê Trung hưng.

Dù đã chiếm được một số khu vực ở Thanh Hóa, nhưng phản ứng của dân chúng có thể sẽ bất lợi hơn cho phe Nguyễn Kim nếu họ công khai phối hợp với quân Minh. Lúc này nhà Mạc vẫn đang kiểm soát được vùng trung tâm Thanh Hóa.

Để chiêu dụ quan lại An Nam, quân Minh đã công bố "nếu ai mang quận huyện đến hàng sẽ được giao cho cai quản chính quận huyện đó". Điều này khiến họ lộ rõ ý đồ sẽ làm chủ An Nam, không trả thực quyền cho nhà Lê, do đó cũng cho thấy chiêu bài dựng lại nhà Lê có thể không được đánh giá cao về mặt tác dụng. Bối cảnh như vậy rất khó cho người Minh lôi kéo được dân chúng chống lại nhà Mạc. Dân An Nam đã nhờ có nhà Mạc mà được hưởng khoảng thời gian thái bình nên khó mà bị lung lạc. Họ lại đã có kinh nghiệm về sự lật lọng của nhà Minh với chiêu bài phù Trần diệt Hồ lần trước. 

Như vậy, xét về tương quan thì nhà Mạc không hẳn ở thế yếu nếu quân Minh tiến sâu vào lãnh thổ. 


Diễn biến ở biên giới và hậu sự kiện

Hàm Ninh hầu Cừu Loan đến Quảng Tây, đeo ấn kiếm triều đình ban cho, bèn ra lệnh cho Trấn thủ Vân Nam Đề đốc Liễu Tuần mặc quân phục, đến quỳ trình diện trước hàng quân. Tuần không tuân, đưa thư chỉ trích Loan, làm đơn khiếu nại đến triều đình. Bộ Binh không giải quyết được, phải trình lên. Minh Thế tông khiển trách Loan, ra lệnh trở về kinh đô. Lệnh Liễu Tuần cùng Mao Bá Ôn lo liệu việc An Nam. (20/10/1540)

Thời điểm tấn công đã bị đình lại có thể đến hàng chục ngày để nội vụ được triều đình nhà Minh giải quyết. 

Họ truyền hịch cho dân An Nam biết việc phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị tuyệt, chỉ đánh cha con Mạc Đăng Dung mà thôi. Nếu ai mang quận huyện đến hàng sẽ được giao cho cai quản chính quận huyện đó, giết hoặc bắt cha con Mạc Đăng Dung đem đến hàng sẽ được thưởng 20.000 [lạng?] vàng, quan cao, tên tuổi được ghi công hai ba lần. Dụ cha con Đăng Dung quả muốn trói tay chịu tội, nạp cống, tuân mệnh, sẽ được tha tội chết. 

Những diễn biến bên phía nhà Minh cho thấy ý đồ và quyết tâm thực hiện gấp rút. Thế thì lời dụ hàng chỉ là một biện pháp đi kèm để lung lạc ý chí chống cự của nhà Mạc, rõ ràng không có chỗ cho đàm phán. 

Minh Thực lục chép rằng "Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quan xin hàng. Bọn Bá Ôn đã được lệnh trước của triều đình nên cho hẹn ngày 3 tháng mười một năm Gia Tĩnh thứ 19 [30/11/1540] đến hàng." Ngoài ra còn dâng sổ hộ tịch, đất đai, quân số, trả lại bốn động mà phía Khâm Châu nói rằng bị chiếm, xin được ban lịch chính sóc và xin được giữ lại ấn cũ để đợi sự định đoạt. 
Tuy nhiên, trong nội dung xin hàng của Mạc Đăng Dung có nói rằng "chỉ xin được theo ý nguyện của dân Di, tùy nghi mà khu xử". Thực tế đó là một điều kiện. Lại dâng sổ hộ tịch, đất đai, quân số nhưng vẫn không thấy nói đến bản đồ. 
Minh Thế tông lệnh giáng nước An Nam làm ty Đô thống sứ An Nam, cho Mạc Đăng Dung làm quan Đô thống sứ An Nam, tòng nhị phẩm, con cháu thế tập, được cấp ấn bạc. Hủy bỏ hệ thống tự thiết lập trước kia, đặt ra ty Tuyên phủ cho 13 lộ như Hải Dương, Sơn Nam..., Mạc Đăng Dung được quyền thăng, giáng, chuyển đổi hoặc cho thế tập. Mỗi năm nhận lịch Đại thống để theo Chính sóc, vẫn theo lệ ba năm cống một lần. Hoàn lại bốn động đã chiếm cho Khâm Châu. Không cần phải phúc trình về số lượng tiền, ngũ cốc, binh giáp. Lệnh Thủ thần khám hỏi việc Lê Ninh, nếu là con cháu họ Lê thì cấp cho bốn quận đang chiếm giữ, nếu không thì bị truất.

Kết quả, nhìn vào những điều kiện nhà Mạc đạt được, là vẫn tiếp tục cai quản An Nam, theo ý nguyện của dân chúng An Nam mà tùy nghi khu xử, không cần phải báo cáo về số lượng tiền, ngũ cốc, binh giáp, thì đó là những điều khoản có thực chất, ngoài ý định ban đầu của Minh Thế tông. Y vốn đã không theo đề xuất của Dư Quang và Mộc Triều Phụ lẫn tờ biểu của nhà Mạc xin làm phiên thần.

Vậy bên phía nhà Minh đã có một quá trình thay đổi nhận thức.

Có thể chính là nhờ khoảng thời gian cuộc tiến công phải đình lại hàng chục ngày để triều đình nhà Minh ở Bắc Kinh xử lý vụ việc giữa Cừu Loan và Liễu Tuần ở Lĩnh Nam.
Các tướng nhà Minh có thêm cơ hội để phân tích kỹ hơn về tình hình An Nam. Hai bên có được những đánh giá sơ bộ trên khía cạnh tinh thần dân chúng. Dân Trung Quốc phải chịu đựng thêm sự vất vả, phản ứng sẽ càng tiêu cực. Dân An Nam, như để cập ở trên, khó mà bị lung lạc. Chiến dịch tuyên truyền và chiêu dụ của nhà Minh bước đầu dĩ nhiên không thu được tín hiệu khả quan.

Trước viễn cảnh cuộc tấn công không sẽ đạt được ý đồ do tình hình thực tế An Nam, do những trục trặc khiến giảm nhuệ khí ban đầu và phát sinh tốn kém, thì một kết quả khả quan hơn mà những kẻ chịu trách nhiệm về cuộc chiến có thể tính đến là tìm cách thỏa thuận với Mạc Đăng Dung một giải pháp hai bên chấp nhận được.  
Sự thay đổi của Mao Bá Ôn, từ phe chủ chiến đã xin bãi binh, xin chấp nhận nhà Mạc, bỏ nhà Lê, chứng tỏ điều đó. 

Tuy Minh Thực lục không chép diễn biến này, mà chép rằng Bá Ôn trú quân ở biên giới, Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quân xin hàng, lời lẽ rất khiêm tốn. Tuy nhiên, phải đến ngày 29/4/1541 sử thần nhà Minh mới chép gộp từ sự việc chuẩn bị tấn công đến lời tuyên bố thắng lợi cùng những ban thưởng của Minh Thế tông vào làm một văn bản.

Sự việc Minh Thế tông ở kinh đô giải quyết chuyện bất đồng xảy ra khi Cừu Loan đến Quảng Tây gọi Trấn thủ Vân Nam Liễu Tuần đến quỳ trình diện trước hàng quân, được ghi chép vào ngày 20/10/1540. Tức là quân đội đã sẵn sàng ở gần biên giới An Nam, muộn nhất là tháng 9 năm 1540. Nếu nói là Đăng Dung nghe tin, sai sứ đến cửa quân xin hàng thì đến ngày 30/11/1540 mới thực hiện nghi thức đầu hàng là quá trễ. Nếu theo Minh Thực lục là bọn Bá Ôn đã được lệnh trước của triều đình nên mới cho cái hẹn này, tức là thời gian trễ như vậy có thể giải thích được là phải chờ chỉ thị của triều đình, thì việc Bá Ôn cùng các Thú thần sau sự kiện đó lại dâng sớ xin tha cho Đăng Dung, Minh Thế tông cho đình thần bàn bạc, rồi mới chấp nhận, hóa ra là việc thừa. Nếu bàn xong mà không chấp nhận thì chẳng lẽ lại đánh tiếp.

Vậy đây rõ ràng là quyết định tùy nghi của Mao Bá Ôn và các tướng nhà Minh nhằm tránh một cuộc chiến khó khăn. Tức là màn kịch đầu hàng được dựng lên trước, chứ không phải có lệnh trước của triều đình, sau mới lấy đó để xin tha. Dĩ nhiên Mạc Đăng Dung chấp nhận. Minh Thế tông vừa mất đi sự ủng hộ của viên tướng chủ chốt, vừa bị đình thần thuyết phục, đã chẳng còn cách nào khác là phải theo. Quá trình này kéo khá dài sau ngày 30/11/1540 nên phải đến 29/4/1541 thì sử quan nhà Minh mới có thể chốt lại, và tất nhiên sẽ phải đề cao họ, bôi nhọ đối phương.

Quả như lời của Đường Trụ là nếu bới việc ra thì có thể lâm vào tình thế đánh không xong mà không đánh cũng không xong. Phải mất đến 4 năm triều đình nhà Minh hảo tổn rất nhiều tâm lực thì mới có thể hạ đài. 

Như thường lệ, họ vẫn tuyên bố toàn thắng. Minh Thế tông phán rằng việc chinh phạt An Nam là do mình quyết đoán tuy rằng vẫn có những người sự hãi và tìm cách chê trách phản đối. Tuyên công trạng và thăng cấp hoặc thưởng tiền và lụa cho gần một trăm người.

Thực tế mục tiêu chiếm An Nam hoặc dựng lại nhà Lê đã thất bại.
Việc bắt nhà Mạc phải đầu hàng trên hình thức và chấp nhận nộp cống thì lại chả cần phải nhọc công và chia rẽ đến thế, vì từ năm 1537 nhà Mạc đã chấp nhận rồi. 
Một số điều khoản Mạc Đăng Dung phải nhượng bộ như bỏ xưng niên hiệu, nhận chức An Nam đô thống ty, mãi mãi xưng là phiên thần, dùng lịch nhà Minh, chỉ là kế tùy nghi, hình thức. Nhà Mạc vẫn xưng đế hiệu trong nước, chính sách không theo nhà Minh. Quan hệ giữa hai bên về thực chất vẫn là giữa hai quốc gia, dù họ muốn gọi là gì. Bốn động họ thu hồi được thì vốn không phải là lý do khởi binh mà chỉ được thêm vào khá muộn, điều này sẽ được phân tích chi tiết.

Ngôn ngữ ngoại giao của các vua Việt đối với vua Trung Quốc đều khá tương đồng. Đó là vẫn theo lối  giả vờ thần phục, lời lẽ nhún nhường, nhận mình là thần tử trong quan hệ thứ bậc. Tuy nhiên quyền tự quyết của quốc gia, ranh giới thực chất, thì được giữ bằng thực lực chứ không có gì là xin hay cho cả.
Nhà Minh muốn cụ thể kết quả bằng việc cho giảm bớt yến tiệc đãi sứ giả An Nam để chứng tỏ không phải tiếp sứ thần một quốc gia phiên thuộc (24/05/1543), tuy vậy khi họ định bỏ việc cử quan hộ tống sứ giả ra biên giới thì sứ thần An Nam viện dẫn lệ cũ, Minh Thế tông lại phải chấp nhận (23/06/1543), chứng tỏ ngay cả trên phương diện hình thức thì y cũng chỉ làm được nửa vời. Có thể y vốn đã tuyên bố với các cận thần quyết tâm xóa bỏ nước An Nam để nhập vào Trung Quốc, nên Mao Bá Ôn phải cố gắng giúp y giữ được chút sĩ diện hão, rằng đã đạt được mục đích. Dù tổ chức ăn mừng và phong thưởng nhưng hoàng đế nhà Minh vẫn không dấu được sự cay cú suốt nhiều năm sau đó khi nhất quyết không phục hồi cho Thị lang bộ Binh Phan Trân, người can gián việc đánh An Nam, mặc dù các đại thần khoa đạo vì tiếc phẩm chất của viên quan này nên đã hơn 10 lần dâng sớ đề xuất (08/08/1548).

Thói quen xuyên tạc để hạ thấp bên ngoài và tô vẽ cho quốc gia là khá phổ biến trong việc viết sử ở Trung Quốc. Sự kiện này hẳn đã được mô tả thiếu khách quan trong Minh Thực lục qua việc họ không chính thức thừa nhận ý đồ đối với An Nam, sử về sau lại càng chép sai lệch.

Nghiêm Tòng Giản viết trong bộ sách Thù vực châu tư lục (4). chương Nam man, về lời xin hàng của Mạc Đăng Dung, đã xuyên tạc nhiều chỗ.
Ví dụ cắt đi ý "xin được theo ý nguyện của dân Di, mà tùy nghi khu xử", trong khi đó là nội dung thực chất nhất, quyết định sự độc lập của An Nam, nhà Minh không thể đoạt được. Nội dung xin cống người vàng được Minh thực lục ghi là: "Nhưng thần và người trong nước muốn theo lệ triều trước, hiến người vàng người bạc thay thế, sợ bị tội đường đột nên tâu lên để được chỉ giáo" lại được Nghiêm Tòng Giản thêm là xin cống người vàng bạc hàng năm, trong khi đây chỉ là những biệt lệ. Thời Trần, khi người Mông Cổ mới làm chủ Trung Quốc đã nhất quyết đòi vua Trần phải đích thân sang chầu, nhưng sau đó họ phải chấp nhận hình thức nhà vua đưa sang một tượng người đúc bằng vàng thay thế cho mình. Các trường hợp khác là phía An Nam cống người vàng lần lượt thay thế cho Trần Cảo, Lê Lợi, Lê Nguyên Long trong giai đoạn cần phải xoa dịu nhà Minh sau thất bại của họ, để tránh họa chiến tranh liên tiếp cho đất nước. Ngoài kiểu tài liệu tùy tiện này thì không có cơ sở nào nói rằng có lệ cống người vàng bạc hàng năm cả. 

Cao Hùng Trưng, trong bộ sách An Nam chí nguyên, thì miêu tả rằng nhà Minh vốn không thực sự động binh mà chủ yếu dọa An Nam, rút cục đạt được mục đích, tuy nhiên nội dung trong Minh thực lục đã bác bỏ ý này. 
Nhóm Trương Đình Ngọc, thời nhà Thanh, khi viết bộ Minh sử đã chép thêm rằng Mạc Đăng Dung lập tức đến hàng và lạy tạ trước cửa quân của Mao Bá Ôn, tuy nhiên các đồ họa trong cuốn sách có tiêu đề rất ngạo mạn của người Minh là An Nam lai uy đồ sách, biên soạn sát với thời gian xảy ra sự kiện 1540, cũng chỉ thể hiện hành động vái chào của Mạc Đăng Dung mà thôi. 

Các sử gia người Việt thường dựa trên những nguồn dữ liệu thiếu tin cậy này do thiếu suy xét hoặc cố ý, chẳng hạn Lê Quý Đôn đã lấy nội dung trong Thù vực chu tư lục khi soạn bộ Đại Việt thông sử (5).
Điều đó cũng là sự tiếp tay cho người Trung Quốc để hạ nhục người Việt, đồng thời ngăn cản những nhận thức khách quan nơi người tìm hiểu lịch sử.

Một điều khoản mà nhà Mạc phải tạm chấp nhận, là để cho lực lượng Lê Ninh tạm đóng ở bốn quận chiếm được ở Thanh Hóa, chờ nhà Minh tra xét lý lịch của Lê Ninh thì mới phúc quyết. 
Giai đoạn này An Nam không sử dụng đơn vị hành chính quận, vậy đây thực tế là huyện hay phủ? Theo Toàn Thư thì từ đầu năm 1539 lực lượng của Lê Ninh đã thắng rất nhiều nơi nên khó có thể họ chỉ giữ có bốn huyện được, nên chỉ có thể là bốn phủ, gồm nhiều huyện và châu. 
Sự việc để Lê Ninh được giữ những nơi đã chiếm cũng được Toàn Thư thừa nhận qua việc nhắc lại nội dung bản tâu của Mao Bá Ôn về Lê Ninh: ''...Hiện tại các địa phương đã lấy được đều thuộc quản thúc, hoặc lượng cho làm chức sự gì trực thuộc về Vân Nam. Nếu không phải con cháu họ Lê thì bỏ đấy không bàn đến nữa...'' (6). Nhà Minh sau đó chẳng tra xét gì thêm mà cũng chẳng can thiệp vào cuộc chiến giữa hai bên. Vì thế đó có thể coi là một thỏa thuận để nhà Minh giữ được chút sĩ diện là đã có bênh vực nhà Lê, nhà Mạc tạm chấp nhận để họ bãi chiến. Sau cái chết của Mạc Đăng Dung vào tháng 8 năm 1541 thì người đứng đầu là Mạc Phúc Hải, còn ít tuổi, nhà Mạc đã thiếu đi một thủ lĩnh quyết đoán để sớm đối phó với lực lượng Lê Trung hưng, đó hẳn cũng là một lý do để lực lượng này đứng chân được, kéo theo là một cuộc nội chiến kéo dài hơn nửa thế kỷ nữa.

Với thế cục mới ở An Nam, nhà Minh đã thu được lợi ích nhờ người An Nam tập trung vào những tranh đấu nội bộ, khiến hạn chế sức ảnh hưởng đến những vùng kimi dọc theo biên giới mà hai bên luôn nỗ lực để lôi kéo, tranh chấp. Trước đó, họ đã lôi kéo được nhiều thủ lĩnh ở biên giới, như Minh thực lục đề cập ở trên. Ngoài bốn động nhà Mạc phải chịu mất thì những khu vực khác nhà Mạc vẫn đấu tranh để lấy lại. Người phụ trách bang giao nhiều năm bên phía nhà Mạc là Thượng thư Giáp Hải thường ra biên giới để làm việc. Minh Thực lục cho biết thêm một số chi tiết. Dưới thời Minh Mục tông phía họ truy tặng chức Thượng thư bộ Công cho viên Tả thị lang bộ Binh Tượng Hiền vì có công đối phó với An Nam ở biên cảnh: "Lúc bấy giờ An Nam dấy binh, các vùng Lưỡng Quảng, phía nam Vân Nam tao động.'' (27/02/1568). "Năm Vạn Lịch thứ 8 [1580] có cuộc tranh chấp biên giới giữa An Nam và các hạt Lội Động, Quy Thuận thuộc tỉnh Quảng Tây, triều đình sai cắt trả lại sáu giáp, 12 thôn [có chỗ quy ra là hơn 120 thôn (12/10/1586)]. Đến nay sứ đến lại đem việc mất đất ra nói'' (22/07/1585). Minh Thần tông từng phải theo đề nghị của Tổng đốc Lưỡng Quảng Quách Ứng xin "hội các quan để khám xử An Nam và các động thuộc xứ Hạ Lôi, Quy Thuận tại biên giới. Hoặc trả lại cho An Nam, hoặc xây mốc đá định biên giới để chấm dứt tranh dành giữa hai bên'' (22/02/1584). Năm 1586 họ lại trả thêm hai thôn là Ngâm Bang và Long Phố. Những kết quả đó, hoàng đế nhà Minh cũng phải thừa nhận là do sự đấu tranh kiên trì của nhà Mạc, mà y gọi là quá đáng(12/10/1586). Một số khu vực vẫn không thể đòi lại được vì nhà Minh lấy lý do đến nay qua các đời nhân tâm đã định, một phần bởi thực tế là nhà Mạc không có điều kiện để tạo nhiều áp lực khi bị kìm chân bởi nội chiến. Quả như lời Đường Trụ với vua Minh trên tinh thần lợi ích quốc gia của họ rằng loạn ở An Nam là phúc cho Trung Quốc.


Vấn đề bốn động Ti Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát. 

Đây vốn không nằm trong tính toán ban đầu của triều đình nhà Minh, mà chỉ khi viên tri châu Khâm Châu là Lâm Hy Nguyên dâng biểu đề nghị đòi thì họ mới thêm vào yêu sách với nhà Mạc. Khi kết thúc và ban thưởng thậm chí y còn không được nhớ tới. Chỉ vào năm sau, khi cho đặt cơ sở để quản lý ở đây thì bộ Binh mới tâu rằng: "Người đầu tiên xin lấy lại bốn động này là Thiêm sự Lâm Hy Nguyên, nay đã bãi chức nhưng công không nên quên". Hy Nguyên mới được thưởng tiền và lụa (16/12/1542). 

Trong khi Minh thực lục chép là nhà Mạc trả lại bốn động trên, phía nhà Minh coi là vốn thuộc các đô Như Tích, Thiếp Lãng của Khâm Châu, thì các tài liệu ở Việt Nam lại chép không thống nhất.
Toàn Thư ghi là nhà Mạc nộp sáu động thuộc châu Vĩnh An trấn Yên Quảng. Tuy nhiên Toàn Thư cũng liền sau dẫn lời tâu của Mao Bá Ôn là Mạc Đăng Dung trả lại bốn động đã xâm chiếm. Lại chép thời điểm tâu trình của Bá Ôn là ngày 20 tháng 10 năm Tân Sửu [1541], sai lệch rất xa. Chứng tỏ tư liệu Toàn Thư về sự kiện này không đáng tin cậy. 
Đại Việt thông sử thì chép Mạc Đăng Dung xin trả 2 đô Như Tích, Chiêm Lãng, và 4 động Tư Phiêu, La Phù, Cổ Lâm, Liễu Cát. 
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục cũng chép theo Toàn thư, sau đó đưa ra chi tiết là một trong các địa danh mà Toàn Thư nêu ra thì vẫn còn ở châu Vạn Ninh nước ta, tỏ ý nghi ngờ rằng sử cũ có thể chép sai sự thực. (7)
Hoàng Việt Dư địa chí của Phan Huy Chú, được biên soạn vào đầu thời Nguyễn, thì cho rằng số đất bị mất là hai châu Thạch Tích và Niêm Lãng cùng với bốn động. (8)
Phương Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu, được biên soạn vào thời Nguyễn, phần viết về tỉnh Quảng Yên (thời Lê và Mạc gọi là An Bang thừa tuyên, thời nay là khu vực tỉnh Quảng Ninh) giáp giới với Khâm Châu của Trung Quốc, đã dẫn nhiều nguồn khác nhau, mà tác giả gọi là cứ chép lại những điều được nghe, để đợi tham khảo, tuy nhiên khi đề cập đến sự việc của nhà Mạc ông đã đưa ra những khẳng định. Theo đó, có bốn động vốn sát nhập vào nước ta từ thời Tuyên Đức, nhà Mạc giả lại nhà Minh là giả lại đất đã lấn, không phải cắt đất để đút lót vậy (9).
Theo Thiên Nam dư hạ của triều Lê Thánh tông, do Nguyễn Văn Siêu dẫn lại cũng trong phần này, thì  An Bang thừa tuyên dưới thời Lê Thánh tông  có 1 phủ (Đông Hải), 3 huyện (Hoành Bồ, An Hưng, Chi Phong), 4 châu (Tân An, Vạn Ninh, Vân Đồn, Vĩnh An). Theo đó nước ta không có hai châu Thạch Tích và Niêm Lãng (như Phan Huy Chú viết). Lại không có hai đô (như Lê Quý Đôn viết), vì đơn vị được gọi là đô chỉ có bên phía Trung Quốc, bao gồm một số động liên kết (10), chứng tỏ người ta đã gọi các vùng đất trên theo tên do người Trung Quốc đặt từ trước. Có thể đương thời người Việt vẫn gọi theo tên cũ chứ chưa thay đổi, cho nhập vào châu Vạn Ninh. Đó là những vùng đất mà chính quyền trung ương vẫn còn quản lý lỏng lẻo, có tính chất kimi. 

Tài liệu của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã mơ hồ và thiếu chính xác, nhưng họ vẫn không theo Toàn Thư. Vậy không có cứ liệu chắc chắn để bác bỏ chi tiết do Minh thực lục đưa ra, là họ lấy lại bốn động thuộc về hai đô. 

Trường hợp này phần lớn các bộ sử ở Việt Nam đều viết thiếu thuyết phục. 

Theo tài liệu của PGS Đinh Khắc Thuân dẫn từ sách Khâm Châu chí thì khu vực tiếp giáp phía đông bắc vốn có ba đô là Như Tích, Thời La và Chiêm Lãng với 7 động (11). Có bốn động thuộc đô Như Tích (Tư Lẫm, La Phù, Liễu Cát, Kim Lặc), hai động thuộc đô Chiêm Lãng (Cổ Sâm, Chiêm Lãng), một động cũng chính là đô Thời La. Như vậy quả thật bốn động Ti (Tư) Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát từng thuộc về hai đô Như Tích và Chiêm Lãng của Trung Quốc. Thời Nguyên Thế tổ động trưởng động Tư Lẫm là Hoàng Thế Hoa được ban ấn tín cai quản cả bảy động này. Khâm Châu chí còn cho biết năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) bốn động chủ theo về An Nam với 29 thôn với 292 hộ, họ được nhà Lê phong chức tước. Sau đó, nhà Minh nhiều lần cho gọi các động trưởng này theo về nhưng không thành nên quan chức nhà Minh phải bỏ về. Những ghi chép trên có thể đã phản ánh đúng cách ứng xử của các bên. Theo đó các thủ lĩnh bản địa trên thực tế vẫn nắm quyền cai quản, họ lựa chọn theo bên nào do tính toán lợi hại dựa trên mỗi giai đoạn, họ thường được hai bên chiêu dụ thay vì áp dụng biện pháp vũ lực chỉ có tính hiệu quả nhất thời. Tóm lại đây là vùng tranh chấp ảnh hưởng, như nhiều vùng đất khác của các dân tộc thiểu số dọc theo biên giới. Trước một hoàn cảnh mà ưu thế ở biên giới nghiêng hẳn về phía nhà Minh thì nhà Mạc khó mà giữ được. Minh thực lục đã chép về thời điểm căng thẳng là "Lúc đó, các thổ quan và hào mục An Nam như Trần Tông, Hoàng Công Cán, cùng các thổ quan tại biên giới như thủ lĩnh Đào Tiên tại châu Thủy Vĩ và những người khác đều tình nguyện nội phụ". Về sau nhà Mạc đã đòi lại được nhiều thôn sau những đấu tranh kiên trì, như Minh thực lục từng ghi rõ, có những nơi không đòi được.

Vấn đề biên giới với Trung Quốc thì không chỉ nhà Mạc mà bất cứ triều đại Việt Nam nào đều gặp phải. Chẳng hạn Phương Đình dư địa chí chép một chuyện tranh chấp thời Lê trung hưng với nhà Thanh như sau: "trước kia thổ mục châu Lộc Bình là Vy Đức Thắng xâm chiếm 8 thôn thuộc châu Tư Lăng. Thổ quan nhà Thanh là Vy Vinh Riệu tố cáo với quan tổng đốc Lưỡng Quảng là Ngô Hưng Tộ, đưa thư hội khám, nhà Lê sai lũ Vũ Duy Khương đi lại tranh biện mấy năm không quyết, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Trị (năm thứ 38 niên hiệu Khang Hy đời Thanh), sai Đoàn Tuấn Khoa hội đồng với ủy viên nhà Thanh khám lại. Vinh Riệu cãi không nổi, mới đem thôn Na Oa giả lại ta. Đến năm thứ 4 niên hiệu Bảo Thái (năm thứ 4 niên hiệu Ung Chính nhà Thanh), quan tổng đốc Lưỡng Quảng họ Khổng, sức cho quan Tư Lăng là Vy Thế Hoa lấy 400 lạng bạc giao cho thổ quan Lộc Bình là Vy Phúc Liêm chuộc lại đất thôn Na Oa, lại thuộc về châu Tư Lăng" (12). Số bạc trên tất nhiên chỉ là bề nổi cho những tính toán thiệt hơn dẫn đến quyết định trả đất cho họ, mà trong đó những người họ Vy ở bản địa thuộc về hai phía có vai trò khá lớn. Để phán xét về chuyện được mất cần phải dựa vào hoàn cảnh. Chỉ điều bất biến của lịch sử là những tham vọng lãnh thổ dễ kéo theo tranh chấp và chiếm đoạt.
 
Nếu Mạc Đăng Dung phải hàng một cách đúng nghĩa thì nhà Minh không thể chỉ dừng lại ở việc lấy bốn động, trong bối cảnh nhiều nơi khác ở dọc biên giới đã xin theo họ. 
Mặt khác, nếu cuộc chiến xảy ra, việc binh đao không biết bao giờ dứt, gây vô số tai họa cho dân chúng, đất đai ở biên giới vẫn có thể mất, mặc dù nhà Minh cũng phải chịu nhiều mặt thiệt hại. Đây cũng là một cơ sở để cho rằng hai bên đã có những cuộc đàm phán trước khi đi đến một nghi lễ đầu hàng có tính hình thức, khiến hoàng đế nhà Minh có thể hạ đài. Lựa chọn này có thể cho là gây ít thiệt hại nhất cho người Việt.

Ứng xử của Mạc Đăng Dung đương thời không bị chỉ trích, kể cả phe đối lập cũng không có dấu hiệu đã chỉ trích hay khai thác gì được.

Năm 1551, Lê Bá Ly vốn là bạn của Mạc Đăng Dung và làm đến chức Thái tể dưới triều Mạc Phúc Nguyên dẫn quân bỏ sang phía phía đối lập do vua nghe theo lời vu hãm của sủng thần, đã giúp lực lượng Lê Trung hưng quyết tâm đánh bại nhà Mạc. Họ tấn công thẳng vào Thăng Long, phát lời kêu gọi mọi người hưởng ứng. Trong bản văn nôm của Lê Bá Ly, còn được lưu truyền đến ngày nay, đã chỉ trích nhà Mạc nhiều mặt kể cả gọi việc lên ngôi mà ông đã từng dốc sức khuông phò là "thác thiên nhường mà lấy thiên hạ, sự chẳng bình tai mặt khôn che" (13), tuy nhiên đã không hề có một chữ nhắc đến sự kiện giữa Mạc Đăng Dung và nhà Minh, chứng tỏ không thể khai thác được gì về sự kiện này. Rút cục họ phải nhanh chóng rút về phía nam vì không thể lôi kéo được dân chúng chống lại nhà Mạc.
 
Trong xã hội đương thời đã lưu truyền một câu chuyện gửi thư đối đáp giữa thời điểm hai bên đã chuẩn bị ở biên giới.

Mao Bá Ôn gửi sang bài thơ Vịnh bèo, tỏ ý coi thường và đe dọa, mục đích nắn gân:

"Dọc theo ruộng nước bám như châm
Rể bám vào đâu cũng chẳng thêm
Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ
Dám chi sạch tiết, dám chi tâm
Tụ rồi đã chắc chi khi tán
Nổi đó nào hay đến lúc chìm
Gặp trận trời cho cơn gió lốc
Quét tan hồ bể khó mà tìm"

Bên phía nhà Mạc đã cho trạng nguyên Giáp Hải họa lại như sau:

"Chen nhau vảy gấm khó luồn kim
Cành rễ liền nhau chẳng kể thân
Tranh với bóng mây trên mặt nước
Hé dung ánh nhật lọt dòng tâm
Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ
Muôn trận phong ba cũng chẳng chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lữ Vọng khó mà tìm." (14)

Nội dung lời đáp trả đã vừa tránh khiêu khích đối phương nhưng thể hiện được khí phách không hề khiếp nhược.
Câu chuyện này là một minh chứng cho thái độ ứng xử của triều đình nhà Mạc. Chính thái độ đó, mới khiến cho người Minh phải chấp nhận một màn thần phục giả vờ, mà họ cố mô tả thành một thắng lợi. Chỉ có thái độ không khiếp sợ mới thực sự chặn được cuộc chiến.

Sau sự kiện biên giới, Mạc Đăng Dung lại về Cổ Trai. Ông qua đời 9 tháng sau đó, vào tháng 8 năm 1541, thọ 58 tuổi. Người cháu nội trẻ tuổi là vua Mạc Phúc Hải cũng qua đời vào năm 1546, liên tiếp sau đó là hai đời vua mà phần lớn thời gian trị vì đều ở tuổi chưa trưởng thành, đất nước lại chịu cảnh chiến tranh liên tiếp, chế độ dần dần suy kém, đến năm 1592 thì mất về tay lực lượng Lê Trung hưng. Sở dĩ triều Mạc kéo dài thêm được khá nhiều năm là nhờ công đức lớn của hai vị vua đầu tiên là Thái Tổ Mạc Đăng Dung và Thái Tông Mạc Đăng Doanh đối với xã tắc. 

Trong cuộc đời, Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã có hai cống hiến lớn cho dân tộc, đó là đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện cuối thời Lê sơ để bước vào một giai đoạn thái bình hiếm có trong lịch sử, và hóa giải được một cuộc xâm lăng bằng những biện pháp ứng xử khôn khéo. 
Đặt trong hệ giá trị phổ quát, coi cuộc sống của người dân là trên hết, thì Mạc Thái Tổ xứng đáng được dân tộc tôn vinh với những gì ông đã cống hiến.

Nhận thức đúng đắn và biết trân trọng những giá trị chân chính là bước khởi đầu cho một xã hội tốt đẹp.


Nguồn tham khảo, trích dẫn, chú thích: 

1. https://giacngo.vn/vanhocnghethuat/2008/05/27/56541B/?webmode=pc

2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb Sử học, H. 1960, tập 1, tr. 180.

3. Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, bản dịch Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Văn học, xb2017, tr181
4.  Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, xb2013. tr 36 đến 39                                                                                                    5. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, bản của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lê Mạnh Liêu dịch. 6. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr835
7. Quốc Sừ quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, sđd, tr116
8.  Phan Huy Chú, Hoàng Việt Dư địa chí  (Tổng tập dư địa chí Việt Nam, tập1, Nxb Thanh Niên, 2012, tr975)
9. Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình Dư địa chí (in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam, tập1, Nxb Thanh Niên, 2012, tr1214)
10. Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, sđd, tr32
11. Đinh Khắc Thuân, Góp phần nghiên cứu lịch sử triều Mạc ở Việt Nam, sđd, tr57,58
12. Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình Dư địa chí, sđd, tr1237,1238
13. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, sđd 
14. Bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Thủ, nguồn thivien.net










 

 

 

 




Posted by Hoàng Cương at 8:34 PM No comments:
Email ThisBlogThis!Share to XShare to FacebookShare to Pinterest
Newer Posts Older Posts Home
Subscribe to: Posts (Atom)

Contributors

  • Hoàng Cương
  • Hoàng Cương

Blog Archive

  • ▼  2026 (1)
    • ▼  May (1)
      • Kinh, Mường...
  • ►  2024 (2)
    • ►  July (1)
    • ►  February (1)
  • ►  2023 (14)
    • ►  October (1)
    • ►  September (4)
    • ►  June (3)
    • ►  April (4)
    • ►  March (1)
    • ►  January (1)
  • ►  2022 (12)
    • ►  December (2)
    • ►  November (1)
    • ►  October (1)
    • ►  September (1)
    • ►  August (1)
    • ►  July (1)
    • ►  June (3)
    • ►  May (1)
    • ►  February (1)
  • ►  2021 (1)
    • ►  January (1)
  • ►  2020 (1)
    • ►  October (1)
  • ►  2019 (3)
    • ►  November (1)
    • ►  September (1)
    • ►  April (1)
Theme images by Jason Morrow. Powered by Blogger.