Search This Blog

Monday, October 24, 2022

Vị trí của nước Tây Đồ

 

Sử sách Trung Quốc ghi nhận nước Tây Đồ (西屠) nằm ở phía nam nước Lâm Ấp. Lâm Ấp thì vốn là một quốc gia độc lập, ở phía nam quận Nhật Nam của nhà Hán, bị Mã Viện xâm lược vào năm 43, rồi lại dành được độc lập từ khoảng năm 193.

Tên gọi Nhật Nam được giải thích là do ở đó bóng mặt trời đổ về phía nam nên được đặt thế. Về sau, người ta coi đó là một cơ sở để khẳng định vị trí Nhận Nam ở phía miền trung của Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, sách Thủy Kinh chú sớ, dẫn lời của Vương Sung, một học giả sống ở thế kỷ 1, khi ông hỏi trực tiếp những người từ Nhật Nam trở về thì họ trả lời là không phải như vậy hết cả, mà có lẽ chỉ ở tháng 5 [tức là tháng 6 dương lịch] (1). Theo căn cứ này thì có lẽ Nhật Nam phải ở khá gần đường chí tuyến bắc, tức là khoảng từ phía nam Quảng Tây Trung Quốc đến phía miền bắc Việt Nam là phù hợp hơn. Trong các bài viết trước tôi đã chỉ ra đúng là như thế. Nhật Nam ở miền nam Giao Châu, mà Giao Châu tức là Lĩnh Nam, vốn ban đầu được đặt tên theo miền núi Ngũ Lĩnh, cách rất xa đất Việt Nam. Một cơ sở khác để củng cố cho nhận định này, là chi tiết trong Hậu Hán thư, quyển 86, chép về thời điểm nhà Hán vừa thiết lập quận huyện ở Lĩnh Nam: “từ đông sang tây một nghìn dặm, từ nam chí bắc năm trăm dặm” (2).Mỗi dặm ước chừng 0.5km. Kích thước trên dĩ nhiên chỉ là ước đoán chứ không thể phản ánh hoàn toàn chính xác, nhưng rõ ràng phạm vi trên hẳn phải nằm lọt trong lưu vực hệ thống sông Châu Giang chứ không thể kéo dài tới miền trung Việt Nam.

Nhiều tài liệu xưa, và ngày nay được coi là một nhận thức chung, là Lâm Ấp đã trở thành huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, sau khi bị Mã Viện chinh phục vào thời Hậu Hán. Tuy nhiên sách Tiền Hán thư ghi nhận các quận huyện thời Tây Hán trước đó cho thấy đã có huyện Tượng Lâm, một trong năm huyện của quận Nhật Nam. Vậy hẳn đã có sự nhầm lẫn.

Một người Trung Quốc đã viết một cuốn sách riêng về Lâm Ấp, gọi là Lâm Ấp ký. Sách này về sau thất truyền. Tác giả Lịch Đạo Nguyên, đầu thế kỷ 6, dẫn một đoạn Lâm Ấp ký, đề cập chi tiết sau khi Mã Viện chiếm Lâm Ấp, như sau: “Năm Kiến Vũ thứ 19 [năm 43] Mã Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, ranh giới phía nam của nhà Hán với nước Tây Đồ” (3). Theo đó thì Lâm Ấp bị biến thành quận Tượng Lâm chứ không phải là huyện Tượng Lâm. Cũng theo Lịch Đạo Nguyên, dẫn sách “Tấn thư địa đạo ký”, năm Thái Khang thứ 3 thời Tấn [năm 283] nhà Tấn cơ cấu lại quận Nhật Nam, lị sở “cách cửa sông Lô Dung 200 dăm, là lị sở của huyện Tượng Lâm, Tượng quận thời Tần ngày trước” (4). Thời điểm này Lâm Ấp đã độc lập, thế nhưng nhà Tấn vẫn còn đất Tượng Lâm, vậy đây cũng là một cơ sở cho thấy Lâm Ấp không phải là huyện Tượng Lâm. Tôi cho rằng có thể đất Lâm Ấp mà Mã Viện chiếm được đã bị đặt thành một quận gọi là quận Tượng Lâm, mà về sau do nhầm lẫn hay cố ý người ta đã gán thành huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam.

Chi tiết về cột đồng nơi biên giới giữa Lâm Ấp và Tây Đồ được Lê Quý Đôn đề cập trong sách Vân đài loại ngữ, quyển 3, điều 52. Ông dẫn hai thuyết. Thứ nhất là thuyết của Đỗ Hựu: “Về phía nam Lâm Ấp, vừa thủy vừa bộ, đi hơn 2000 dặm, có nước Tây Đồ Di là nơi Mã Viện dựng hai đồng trụ để nêu rõ địa giới, núi Đồng Trụ chu vi 10 dặm, hình như cái lọng ngả ra, phía tây nhiều dãy núi trùng nhau, phía đông ra ngay biển lớn”. Thứ hai là thuyết của Tống Bạch: “Mã Viện đánh Giao Chỉ, đi từ Nhật Nam, đi về phía nam hơn 400 dặm thì đến Lâm Ấp, lại đi về phía nam hơn 200 dặm có nước Tây Đồ Di. Viện đến đấy đúc và dựng ba cột đồng ở biên giới Tượng Lâm để phân biệt địa giới với nước Tây Đồ Di. Kể từ Giao Châu đi đến chỗ đồng trụ là 5.000 dặm”. Ngoài ra, bộ Lương thư của Diêu Tư Liêm, đầu thế kỷ 7, ghi nhận về Lâm Ấp: “đất ấy dài rộng độ sáu trăm dặm, thành cách biển một trăm hai mươi dặm, phía bắc tiếp giáp với quận Cửu Đức. Biên giới phía nam đường thủy bộ đều hơn hai trăm dặm, có nước Di ở phía tây cũng xưng vương, chính là nơi Mã Viện dựng hai cột đồng để đánh dấu biên giới nhà Hán vậy”.

Con số 2000 dặm do Đỗ Hựu đưa ra có vẻ không hợp lý, xét cả về mức độ cần thiết cũng như khả năng hậu cần để có thể tiến xa ngoài kế hoạch như thế, bởi vì vốn ông ta chỉ đi bình định Giao Chỉ. Ngoài ra, ngày nay người ta đã chỉ ra được nhiều chi tiết lịch sử giả mạo về khu vực Tượng quận ở phía nam, mà vốn xuất phát từ Đỗ Hựu. Con số này có lẽ được lấy căn cứ theo biên giới phía nam của nước Lâm Ấp trước khi bị nhà Tùy xâm lược, vào đầu thế kỷ 7, chứ không phải Lâm Ấp thời Mã Viện xâm lược, ở thế kỷ 1. Đó là một sự nhập nhèm, có thể nhằm ngụy tạo ra một lịch sử về sự chiếm hữu của người Trung Quốc ở khu vực nam Trung bộ Việt Nam vào thời Tần Hán, lấy danh nghĩa cho việc thu phục hết phần còn lại của nước Lâm Ấp đương thời. Đỗ Hựu từng làm Tiết độ sứ ở Lĩnh Nam rồi làm tới chức Tể tướng của nhà Đường.

Vậy có thể con số thực tế là khoảng hơn 200 dặm, tức là hơn 100km tính từ thủ phủ Lâm Ấp đến ranh giới với nước Tây Đồ. Bây giờ chúng ta thử xác định vị trí thủ phủ này.

Căn cứ thứ nhất, dựa trên những kết quả tôi đã chứng minh rằng Lâm Ấp thời Mã Viện vốn ở miền bắc Việt Nam (https://hoangcuongviet.wordpress.com/2022/02/02/lan-nay-chung-ta-co-chap-nhan-xet-lai-lich-su-khong/), vậy thì thủ phủ Lâm Ấp cũng ở trên khu vực đồng bằng sông Hồng. Căn cứ thứ hai, dựa trên những kết quả khảo cổ về thành Cổ Loa cho thấy đó là một tòa thành cổ rất lớn. Người ta tìm thấy những viên gạch Hán được dập niên hiệu, được xác định là các năm 99, 105, 111, sau thời điểm Mã Viện chiếm Lâm Ấp, chứng tỏ đây là tòa thành quan trọng nên được họ chú tâm gia cường. Rất có thể đây chính là thủ phủ. Căn cứ thứ ba, là chi tiết trong Lương thư cho biết thành cách biển 120 dặm, tức là khoảng 60km. Từ Cổ Loa ra tới cửa sông Hồng ở thời đầu Công nguyên với khoảng cách đó là không sai lệch nhiều so với một số tính toán địa chất. Từ ba căn cứ này chúng ta có thể xác định Cổ Loa chính là thành của nước Lâm Ấp thời kỳ đó.

Từ Cổ Loa đi về ranh giới phía nam đường thủy lẫn đường bộ đều hơn 100km, vậy thì đường ranh giới đó hẳn chính là dãy núi Tam Điệp.

Theo mô tả của Đỗ Hựu: “núi Đồng Trụ chu vi 10 dặm, hình như cái lọng ngả ra, phía tây nhiều dãy núi trùng nhau, phía đông ra ngay biển lớn”, thì núi này phải nằm ở cực đông của dãy Tam Điệp. Chúng ta có thể thấy đó chính là ngọn núi Mai An Tiêm. Tính cả khu vực chung quanh núi, cao từ 4m trở lên thì đường chu vi khoảng gần 5km, tức là gần 10 dặm. Bên ngoài là các khu vực thấp hơn, có lẽ được bồi đắp về sau. Truyền thuyết Mai An Tiêm cũng cho biết rằng nơi này vốn là một hòn đảo. Vậy đây có lẽ chính là núi Đồng Trụ.

Kết hợp với việc dựa vào đặc thù địa lý để loại trừ các khả năng khác, thì có thể kết luận rằng khu vực Thanh Hóa, ít nhất là miền đồng bằng, chính là nước Tây Đồ xưa.


                                       Hình ảnh thể hiện ước lượng về phạm vi núi Đồng Trụ.

 Phía nam, cách dãy núi Tam Điệp khoảng 20km là khu vực Hậu Lộc, trung tâm của văn hóa Hoa Lộc thời tiền sử. Ở đây có cửa Lạch Trường, vốn là cửa chính của sông Mã, là trung tâm của Ái Châu ít nhất cho đến thời nhà Lý. Có thể đây chính là đô thành của nước Tây Đồ. Nhà khảo cổ học người Thụy Điển O. Janse từng khai quật được ở vùng này 29 cái mộ Hán, về sau người ta còn có thêm nhiều cơ sở khác để kết luận rằng nhà Đông Hán đã từng đặt được chế độ cai trị ở khu vực đồng bằng Thanh Hóa, như vậy lực lượng nhà Hán chiếm đóng Lâm Ấp đã kế tục Mã Viện mở rộng về phía nam, thôn tính luôn nước Tây Đồ.

Liệu tên gọi này có liên hệ gì với khái niệm Tây Đô?

Tên gọi của người Hán đối với nhiều quốc gia bên ngoài trong nhiều trường hợp chỉ là sự phiên âm tên do người bản địa gọi. Trường hợp Tây Đồ có lẽ cũng thế, bởi vì khái niệm này hiểu theo chữ Hán thì khá vô nghĩa. Ngược lại, tên gọi Tây Đô thì có ý nghĩa rõ ràng, chỉ một kinh đô ở phía tây.

Từ trước đến nay người ta thường hiểu Tây Đô là trị sở ở Thanh Hóa, còn Đông Đô là khu vực Hà Nội. Tuy nhiên, dù thành Tây Đô có dịch chuyển đâu đó dọc đồng bằng ven biển Thanh Hóa thì tương quan phương vị giữa Đông Đô và Tây Đô vẫn hầu như là chính bắc nam chứ không thể là đông tây được. Ngay cả trường hợp đặt kinh thành phía bắc ở Hoa Lư, thời Đinh và Tiền Lê, thì cũng không thể gọi tương quan này là đông tây.

Trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư, khái niệm Tây Đô thậm chí còn được đề cập trước khái niệm Đông Đô. Sách này chép về sự kiện Lê Hoàn đánh dẹp Đinh Điền và Nguyễn Bặc, cuối năm 979: “Bấy giờ Hoàn mới chỉnh đốn binh sĩ, đánh nhau với Điền, Bặc ở Tây Đô”, kèm theo lời giải thích: “Hoàn người Ái Châu, mà kinh đô ở Hoa Lư, cho nên sử gọi Ái Châu là Tây Đô”. Thời điểm này Đinh Tiên Hoàng vừa mới chết, Lê Hoàn chưa lên làm vua, vậy chưa thể nào lập Tây Đô được? 

Vậy phải chăng tên gọi Tây Đô cũng là do chuyển dịch từ Tây Đồ mà ra?

Người viết bài này thử đưa ra một giả thuyết. Sau khi dành lại độc lập, từ cuối thời Đông Hán, biên giới Lâm Ấp dần được mở rộng ra, bao gồm cả phạm vi nước Tây Đồ và xuống tới cả phía nam Trung Bộ thì tên gọi cũ của các nước đã bị xóa dần đi. Kinh thành Lâm Ấp thời kỳ này nằm ở phía ven biển đông Bắc Bộ, điều này tôi đã chứng minh, qua bài viết đã được dẫn ở phần trên. Sử sách Trung Quốc ghi nhận nhiều cuộc chiến tranh giữa Lâm Ấp và nhà cai trị Giao Châu, mà có trường hợp họ đã chiếm đóng và san phẳng cả kinh thành Lâm Ấp, vì vậy nhà nước Lâm Ấp có thể đã xây dựng thêm một đô thành mang tính phòng thủ ở khu vực Thanh Hóa, tức là nằm về phía tây nam của kinh đô chính thức, lúc này tên gọi của thành Tây Đồ đã bị biến ra thành Tây Đô. Ở giai đoạn này chữ Hán đã phổ biến và hệ thống từ vựng Hán Việt đã hình thành. Rồi khái niệm Tây Đô lại chi phối các vị vua chúa có nguồn gốc từ Ái Châu để rút cục gọi kinh thành phía bắc là Đông Đô.

 

 

Chú thích:

1.       Thủy kinh chú sớ, bản dịch của Nguyễn Bá Mão, trang 373

2.       Hậu Hán thư – quyển 86, An Nam truyện, bản dịch của Châu Hải Đường, trang 187

3.       Thủy kinh chú sớ, sđd, trang 395

4.       Thủy kinh chú sớ, sđd, trang 366

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Friday, September 30, 2022

Tên gọi Cổ Loa

 

This image has an empty alt attribute; its file name is chau-duong-lam.png
Vị trí phỏng định về châu Đường Lâm

Cổ Loa là tên gọi một di tích thành cổ, ở vị trí nay là xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Ngày nay giới khảo cổ phát hiện ra rằng đây là tòa thành có quy mô lớn, tồn tại từ trước Công nguyên, được nâng cấp nhiều lần qua nhiều thế kỷ.

Một số sử sách xưa gán thành này là Loa Thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau [kỷ nhà Thục, trang 6a]: “Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại”.

Những chi tiết về Thục Vương và Loa thành gây khá nhiều tranh cãi trong giới viết sử. Chẳng hạn Ngô Thì Sĩ viết trong mục An Dương Vương, sách Đại Việt sử ký tiền biên, là: “Truyện ở Ngoại kỷ phần nhiều là càn rỡ”, các tác giả bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cho rằng: “…chứ nếu bảo Thục Vương đây lại là người ở Ba Thục thì không phải”. Vậy, xưa đến nay luôn có ý kiến cho rằngcâu chuyện này có nhiều chỗ không phù hợp thực tế.

Đoạn chép trên Toàn thư có một chi tiết rất đáng xem xét, đó là thành này được người nhà Đường [618-907] gọi là Côn Lôn Thành (崑 崙 城).Kỷ nguyên độc lập của người Việt bắt đầu ngay thời điểm sụp đổ của nhà Đường, mà năm 938 tòa thành thuộc làng Cổ Loa này lại được Ngô Quyền chọn làm kinh đô. Hẳn là đã có một quá trình ghi nhận liên tục từ tên gọi Côn Lôn đến địa danh Cổ Loa và Loa Thành rồi đi vào sử sách.

Tuy nhiên lời giải thích của sử gia người Việt, người nhà Đường đặt tên thành là Côn Lôn vì thành rất cao, là không đủ căn cứ. Sử sách nhà Đường không nói điều này. Chúng ta cũng khó có thể tìm ra một trường hợp nào là tiền lệ cho việc gán ghép tên dãy núi Côn Lôn với một tòa thành.

Phải chăng tên gọi Côn Lôn của tòa thành này xuất phát từ một ý nghĩa khác?

Trong sử sách cổ Trung Quốc thì từ Côn Lôn còn mang ý nghĩa chỉ những tộc người ở ven biển và hải đảo phía nam. Người Lâm Ấp và Phù Nam được họ coi là thuộc nhóm Côn Lôn. Ngày nay thì khái niệm đó có phần tương ứng người Nam Đảo (Austronesian). Nhóm Nam Đảo hiện vẫn là thành phần lớn nhất của cư dân Đông Nam Á. Ngay nhiều nhóm ở sâu trong nội địa Đông Nam Á và phía nam Trung Quốc cũng được nhiều ý kiến trong giới khoa học cho rằng vốn cũng tách ra từ người Nam Đảo.

Tuy nhiên, một điều không nhiều người biết là chính miền Đường Lâm, quê hương của Ngô Quyền, cũng từng thuộc về Lâm Ấp. Đường thư địa lý chí cho biết: “Phúc Lộc Đường Lâm quận vốn là Phúc Lộc quận. Năm thứ 2 niên hiệu Tổng Chương [669] quan Thứ sử Trí Châu là Tạ Pháp Thành chiêu dụ Sinh Lạo, Côn Minh, Bắc Lâu hơn 70 bộ lạc, lấy đất của quận Lâm Ấp nhà Đường mà đặt ra. Năm đầu niên hiệu Thái Định đổi tên là An Vũ Châu. Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đức [757] đổi làm quận gọi là Đường Lâm. Năm đầu niên hiệu Càn Nguyên [758] lại phục hồi lại tên cũ của châu. Tùy địa lý chí cho biết về quận Lâm Ấp này, năm đầu niên hiệu Đại Nghiệp [605] nhà Tùy bình nước Lâm Ấp, đặt ba châu là Đăng Châu, Nông Châu, Sung Châu, sau đổi thành các quận là Tỵ Ảnh, Hải Âm, Lâm Ấp.

Côn Minh và Bắc Lâu là các địa danh thuộc Vân Nam Trung Quốc. Có thể thấy rằng Đường Lâm là một châu miền núi, kéo dài từ phía Sơn Tây ngược lên hướng tây bắc, miền đất tương ứng với trấn Sơn Tây sau này.

Làng Đường Lâm của Ngô Quyền khá gần với Cổ Loa, theo đường thủy thì đến được sát chân thành.

Toàn thư cho biết năm 979 người Chiêm Thành từng cho hơn 1000 chiến thuyền sang giúp một hậu duệ nhà Ngô là Ngô Nhật Khánh nhằm lật đổ nhà Đinh vào năm 979. Tống sử cho biếtquốc vương Chiêm Thành năm 985 tên là Thi Lợi Đà Bàn Ngô Nhật Hoan. Đặt hai chi tiết này cạnh nhau và cùng với chi tiết Đường Lâm từng thuộc Lâm Ấp chúng ta sẽ thấy mối liên hệ giữa họ Ngô và người Chiêm Thành, triều đình thừa kế người Lâm Ấp, tức là người Côn Lôn.

Trong các bài viết trước, tôi đã chỉ ra rằng Lâm Ấp từng là một đất nước rộng lớn, kép dài từ phía cực nam Trung Quốc đến núi Đại Lãnh ở miền trung Việt Nam. Đến thời nhà Tùy và nhà Đường thì người Trung Quốc chiếm được một phần lãnh thổ Lâm Ấp, bao gồm kinh thành Điển Xung và chủ yếu phần phía đông bắc. Địa bàn này bao gồm đồng bằng Bắc Bộ, tức là bao gồm Cổ Loa.

Lâm Ấp, khu vực văn minh biển đảo, rồi chịu ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Về sau, dưới chế độ Bắc thuộc và các triều đại phong kiến Việt Nam, ảnh hưởng từ Trung Quốc dần lấn át. Điều này dẫn đến một thực tế là ngày nay người ta không nhận thức đúng mức tính chất bản địa cũng như ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, mà thông qua nó là văn hóa Champa, lên vùng đất Đại Việt. Những dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực trong dân gian ở Bắc Bộ khá gần gũi với văn hóa Chăm. Ngay tại chùa Dạm ở Bắc Ninh có một cột đá khổng lồ giống biểu tượng linga của người Chăm, mà các hoa văn trên đó cũng được một số chuyên gia xác định là do người Chăm làm ra. Sự phổ biến của trống đồng ra tới miền hải đảo Indonesia chỉ có thể giải thích được nếu tính đến vai trò của cư dân Nam Đảo. Từ lâu, giới khảo cổ đã nhận thấy mối quan hệ giữa nền văn hóa Đông Sơn ở đồng bằng Bắc Bộ và nền văn hóa Sa Huỳnh của cư dân Nam Đảo ở miền Trung có từ giai đoạn đầu Công nguyên, ảnh hưởng lẫn nhau từ hai phía. Nội dung này có thể được tìm thấy trong các bài viết của Nishimura Massarani, Bùi Chí Hoàng, Mariko Yamagata…trong đó còn nhắc tới những tác giả đi trước như M. Colani, Hà Văn Tấn.

This image has an empty alt attribute; its file name is cotdachuadam.jpg



Như vậy rất có thể tên gọi thành Côn Lôn là do người nhà Đường gọi thành của người Côn Lôn, tức là của người Lâm Ấp.

Câu chuyện Thục An Dương Vương và Triệu Đà là một câu chuyện khác, ở một địa phương khác, được gán vào, nên lộ ra nhiều điều vô lý. Tôi sẽ đề cập rõ hơn trong những bài viết sau.



Tên gọi Cổ Loa is now live.

What’s next?

View PostAdd New Post

Take advantage of the QR code to open the post from different devices.

Convert to audio

Seamlessly turn this post into a podcast episode with Anchor - and let readers listen to your post.

Create a podcast episode
This post has been sent to 2 readers

Wednesday, August 17, 2022

Chữ Nôm và Quảng Nam

 Tiêu đề bài viết này thực ra không bao quát hết được nội dung, chỉ là tạm thời đặt thế.

Trước hết, xin nói đến khái niệm cách đọc Hán Việt. Hiểu một cách nôm na thì đó là hệ thống cách đọc văn tự Hán theo kiểu Việt Nam, thay vì đọc theo tiếng Hán. Tức là người Việt dùng chữ Hán nhưng không trở thành người biết nói tiếng Hán.

Tôi cũng xin đề cập đến một cách giải thích khác, cho rằng đây là phát âm tiếng Hán thời Đường, còn người Trung Quốc hiện nay lại phát âm chệch đi do hậu quả của những thời kỳ bị người bên ngoài cai trị. Tức là cách phát âm của người Việt “nguyên bản” hơn. Ý kiến này chỉ có thể được chấp nhận nếu chúng ta chấp nhận hai điểm cùng lúc. Thứ nhất là người Việt có thể phát âm được khá nguyên bản tiếng Hán Đường trong thời kỳ tiếp nhận, thứ hai là người Trung Quốc có thể bị thay đổi tiếng nói bởi nhà cai trị thiểu số. Về điểm thứ nhất, chúng ta đều biết rằng bộ phận phát âm của mỗi con người đã được định hình từ rất sớm để phù hợp với tiếng mẹ đẻ, vì vậy việc phát âm chuẩn một ngôn ngữ thứ hai là rất khó khăn. Trên quy mô một dân tộc thì điều này hầu như không thể. Về điểm thứ hai, các chứng cứ lịch sử chỉ ghi nhận nỗ lực của người Mãn Thanh nhằm thay đổi việc cắt tóc và y phục của người Hán, mà điều đó đã rất khó khăn rồi, nói gì đến việc khiến người Hán thay đổi tiếng nói, nếu nhà cai trị quả có muốn thực hiện. Tóm lại thuyết “nguyên bản” này rất ngớ ngẩn.

Nhiều ý kiến cho rằng đó là cách phản ứng của tầng lớp tinh hoa bản địa nhằm chống lại sự đồng hóa của người Hán trong thời kỳ Bắc thuộc. Vậy thì đây phải là kế hoạch có tổ chức, có hệ thống, có quá trình lâu dài. Vấn đề là tại sao nhà cai trị phương Bắc lại có thể để yên? Mặt khác, theo lẽ tự nhiên thì không thể bỏ qua tâm lý người học hướng đến việc phát âm cho chuẩn khi học chữ, vậy lý do nào lại đều chấp nhận hệ thống phát âm quá sai lệch so với nguyên bản. Cách giải thích như này rõ ràng là không thỏa đáng.

Nếu nói rằng đây là chủ trương của chế độ, khi buộc phải sử dụng chữ Hán vì những lợi ích của nó, nhưng lại không muốn cho dân chúng nói được tiếng Hán, thì hợp lý hơn. Hoặc ít nhất thì hệ thống chữ viết đã hiện diện rất lâu trước khi có sự cai trị của người Trung Quốc, nên việc phát âm đã hoàn toàn bản địa hóa, nhà cai trị không có thể còn thay đổi. Vậy thì chế độ đó phải là độc lập chứ không thể của người Trung Quốc được.

Bây giờ xin nói về chữ Nôm. Đây là bộ chữ riêng, để biểu đạt những từ vựng bản địa, do không thể tìm ra chữ Hán phù hợp, chữ đồng nghĩa thì khác âm, mà chữ đồng âm thì lại khác nghĩa. Chữ Nôm dựa trên chữ Hán, đại khái gồm một phần biểu đạt ý của từ, ghép với một phần biểu đạt âm (hoặc gần giống âm) của từ đó.

Hiện nay phần lớn các quan điểm vẫn cho rằng chữ Nôm được tạo ra vào những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ hai, trong khi người ta lại chấp nhận rằng hệ thống Từ Hán Việt có từ thiên niên kỷ thứ nhất. Chúng ta có thể thấy sự bất hợp lý khi cho rằng người Việt biết du nhập chữ Hán, biết cách chế ra cách phát âm Hán Việt riêng cho mình, mà đến nhiều thế kỷ sau mới biết vận dụng chữ Hán để biểu đạt từ thuần Việt. Vậy thì rất có thể chữ Nôm cũng bắt đầu được tạo ra trong cùng giai đoạn với hệ thống từ Hán Việt.

Nhìn sang khu vực dân tộc Choang ở phía bắc biên giới, họ cũng có hệ thống chữ vuông được chế từ chữ Hán để biểu đạt từ bản địa, thể hiện trên tấm bia do Vi Kính soạn vào năm Vĩnh Thuần nguyên niên (năm 682) đời Đường (1). Tức là tư tưởng vận dụng chữ Hán để biểu đạt từ bản địa đã xuất hiện khá sớm ở phía nam.

Từ “Nôm” có nghĩa phổ thông là “Nam”, chỉ phương nam. Đây là phương ngữ Quảng Nam của tiếng Việt chứ không phải là ngôn ngữ phổ thông. Vấn đề đặt ra là tại sao người ta không gọi là chữ Nam mà lại gọi là chữ Nôm? Ngoài ra, có một số chữ Nôm được cho là do đọc chệch mà thành, ví dụ: "gió" 這 (mượn âm "giá"), "cửa" 舉 (mượn âm "cử"), "đêm" 店 (mượn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mượn âm "trãi") (2), những trường hợp này cho thấy sự gần gũi với phương ngữ Quảng Nam. Vậy phải chăng quá trình sáng tạo chữ Nôm đã dựa một phần vào phương ngữ Quảng Nam, tức là thời đó đã có phương ngữ Quảng Nam và có yếu tố Quảng Nam trong tầng lớp cầm quyền? Chúng ta hãy xem xét một số chứng cứ.

Ngày nay người ta đã có những nhận thức mới về sự giao thương và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các khu vực ở thời đầu Công nguyên. Ví dụ, ở di chỉ Lũng Khê thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, những chứng cứ về mối quan hệ giữa khu vực này và miền Trung hay Nam Bộ đã được tìm thấy. Theo công bố của nhà khảo cổ học người Nhật là Nishimura Masanari (3), gồm có: 1. Bàn nghiền đá hình chữ nhật có chân. Những hiện vật giống nó cũng được tìm thấy ở di chỉ Óc Eo, tỉnh An Giang. Đây là bàn nghiến kiểu Ấn Độ/ 2. Bình gốm Kendi. Hình dáng gần giống với những bình Kendi được phát hiện ở Trà Kiệu thuộc Quảng Nam. Đây là loại hiện vật có nguồn gốc Ấn Độ, rất phổ biến ở những di chỉ thuộc khu vực Đông Nam Á, thuộc thiên niên kỷ 1 Công nguyên./ 3. Chì lưới lỗ. Loại hiện vật này cũng được phát hiện ở Óc Eo và trong bộ sưu tập của vị cha Anton ở thành cổ Trà Kiệu, Quảng Nam/ 4. Đầu ngói ống. Loại đầu ngói ống này còn được phát hiện ở thành cổ Trà Kiệu, Quảng Nam và ở di tích lò Tam Thọ, Thanh Hóa. Trang trí của loại hiện vật này cho thấy có liên quan đến Phật giáo và Ấn Độ giáo.

Ở các tỉnh vùng Tây Nguyên người ta phát hiện được nhiều trống đồng có niên đại trên dưới 2000 năm (4). Sự phát triển của khoa học khảo cổ đã cho thấy những tương tác giữa khu vực miền Bắc và miền Trung của Việt Nam cũng như với văn hóa Ấn Độ sớm hơn và sâu sắc hơn, góp phần giúp chúng ta xem xét lại lịch sử.

Trong bài viết trước, tôi đã chứng minh rằng thực tế không có cái gọi là nghìn năm Bắc thuộc mà chỉ có hai giai đoạn Bắc thuộc, từ năm 43 đến 192 và từ năm 605 đến 905. Từ năm 193 đến 604 trên lãnh thổ chúng ta là nước Lâm Ấp độc lập với Trung Quốc. Kinh thành Điển Xung của Lâm Ấp ở dưới chân núi An Phụ, vị trí nay là xã An Sinh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Cách bờ biển chừng trên 20km. Lâm Ấp thời kỳ hùng mạnh có lãnh thổ trải dài từ miền cực nam Trung Quốc cho đến núi Thạch Bi thuộc dãy núi Đại Lãnh, ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay.

Bộ sách Tấn thư, phần chép về Lâm Ấp, cho biết rằng từ triều vua Phạm Văn, nửa đầu thế kỷ 04, triều đình Lâm Ấp bắt đầu chủ trương học theo Trung Quốc. Vậy thì có thể cho rằng đây là mốc hợp lý cho sự ra đời của hệ thống phát âm Hán Việt và hệ thống chữ Nôm.

Các sử liệu Trung Quốc cho thấy họ từng gọi vương triều Lâm Ấp, ở một giai đoạn đóng đô ở miền Trung, mà được cho là tại vị trí thành cổ Trà Kiệu, là Hoàn Vương. Hoàn Vương cũng có nghĩa là vương triều quay trở về.

Với các dữ liệu trên, chúng ta có thể tìm thấy một câu trả lời cho vấn đề từ Hán Việt, chữ Nôm và tiếng Quảng Nam. Đó là, sau giai đoạn thuộc Hán (43 đến 192) ở khu vực đồng bằng ven biển phía bắc, đây là Lâm Ấp cũ, bị Mã Viện xâm lược, thì đã có một lực lượng từ phía Quảng Nam tiến ra cầm quyền, đóng đô ven biển. Lâm Ấp bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thời kỳ này, một phần cũng nhờ giai đoạn Lục triều chiến tranh liên miên ở Trung Quốc. Tiến trình song song là sự tiếp biến về ngôn ngữ ở những khu vực năng động dọc tuyến giao thương ven biển, các thành phương ngữ được hình thành, trong đó ngôn ngữ ở khu vực Lâm Ấp cũ, vùng đồng bằng Bắc Bộ, là chủ đạo vì đó là trung tâm lớn nhất. Vương triều Lâm Ấp vốn chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, nhưng khi ra phía bắc đã tiếp thu nhiều yếu tố Trung Quốc, do tác động từ mối giao thương chắt chẽ và những thành tựu mà người Trung Quốc đạt được. Chữ Hán vì vậy được phổ biến. Tuy nhiên, do những va chạm thường xuyên nên vương triều này đã cảnh giác với sự Hán hóa, vì vậy đã tạo ra một lớp ngăn người dân biết chữ Hán nói được tiếng Hán, bằng cách tạo ra cách đọc Hán Việt. Cũng chính vương triều này tạo ra chữ Nôm, mà Nôm tức là chữ Nam theo phương ngữ của họ.

Sau khi bị đánh bại ở vùng đồng bằng phía bắt thì vương triều này lại rút về Quảng Nam. Nhà Đường về sau hiểu được nội tình nên gọi là Hoàn Vương, có lẽ đây cũng là một thông điệp chính trị của triều đình Trung Quốc.

Kiến giải này sẽ vấp phải sự phản đối của những người cho rằng người nước Hoàn Vương, và Chiêm Thành sau này đều nói tiếng Chăm chứ không thể nào là phương ngữ Quảng Nam của tiếng Việt.

Thực tế thì chúng ta có chứng cứ là dân cư ven biển ở phía nam núi Thạch Bi, nơi này có vài tiểu quốc của Chiêm Thành còn tồn tại sau cuộc thôn tính của Lê Thánh Tông năm 1471, nói tiếng Chăm, tuy nhiên đó không phải là vùng trung tâm Chiêm Thành, lại có những giai đoạn thì thuộc về Chân Lạp và có thể trước đó là Phù Nam. Điều này không đủ để nói rằng vùng trung tâm Chiêm Thành nói cùng thứ tiếng đó.

Thế còn việc chứng minh người Chiêm Thành nói một phương ngữ của tiếng Việt, tức là như tiếng Quảng Nam, Bình Định bây giờ, thì sao? Chúng ta hãy thử xem xét từ góc độ một số ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư về quan hệ giữa người Việt và người Chiêm Thành.

Năm 979 phò mã Ngô Nhật Khánh cầu viện người Chiêm Thành đánh thành Hoa Lư để dựng lại nhà Ngô.

Năm 989 Dương Tiến Lộc đem hai châu Hoan, Ái xin quy phụ Chiêm Thành.

Năm 905 hoàng tử Đông Thành Vương Lê Long Tích thua chạy cũng tìm cách sang Chiêm Thành.

Năm 1046 Lý Thái Tông sai dựng cung riêng cho phụ nữ Chiêm Thành ở.

Năm 1202 Vua nước Chiêm Thành là Bố Trì bị chú là Văn Bố Điền đuổi, nay đem cả vợ con đến ngụ ở cửa biển Cơ La, ý muốn cầu cứu.

Một thủ lĩnh cát cứ cuối thời Lý, đầu thời Trần là Nguyễn Nộn đã thu nhận một người Chiêm Thành là Phan Ma Lôi làm trợ thủ đắc lực. Ma Lôi dụng binh như thần. Năm 1229 khi Nguyễn Nộn chết thì Ma Lôi bỏ trốn, nhà Trần mới thống nhất thiên hạ.

Khi có chiến tranh Đại Việt – Chiêm Thành vào năm 1390, thì “Bấy giờ, người Nghệ An vốn ở hai lòng, còn Tân Bình, Thuận Hóa thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành”

Năm 1448, người Chiêm Thành là Phan Mỗ dẫn hơn 340 đàn ông đàn bà sang hàng, xuống chiếu chia cho ở các đạo.

Năm 1472, Cấm quan viên và dân chúng không được lén lút chứa giấu người Chiêm Thành

Năm 1499, xuống chiếu: “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”

Năm 1509, sai giết các nữ sử nội thần người Chiêm

Các chi tiết trên cho thấy mức độ tương tác giữa hai bên khá mạnh, kể cả trong những tầng lớp bình dân ít học. Điều này rất khó xảy ra nếu rào cản ngôn ngữ là lớn, như giữa tiếng Việt và tiếng Chăm.

Chúng ta cũng có thể thấy là từ năm 1471 đến năm 1653 người Việt không lấn qua núi Thạch Bi. Cách giải thích hợp lý nhất là do khác biệt ngôn ngữ nên phía người Việt không thực sự quyết tâm lấn chiếm, mà họ chỉ thực hiện khi có điều kiện dễ dàng. Phía bắc núi Thạch Bi thì nói phương ngữ của tiếng Việt, không quá khác biệt, nên triều đình Đại Việt hầu như không ngừng tìm cách thôn tính.

Tóm lại, trên ý kiến chủ quan của người viết thì chúng ta có cơ sở để giải thích về vấn đề chữ Nôm và vấn đề phương ngữ Quảng Nam, khai thông những bế tắc hiện nay trên khía cạnh học thuật, đồng thời đưa đến cách nhìn mới về lịch sử nước Việt Nam. Mong nhận được sự phản biện của các bạn quan tâm.



Wednesday, July 20, 2022

Vấn đề của quan niệm lấy phương bắc làm nơi khởi nguồn của dân tộc

 Các sách lịch sử của Việt Nam trước đây vẫn chép rằng nhà Tần bắt đầu xâm chiếm Lĩnh Nam từ năm 217TCN, sau đó lập thành ba quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận, tương ứng với Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam về sau. Lại đưa 50 vạn người xuống định cư.

Năm 1916, Henry Maspero, một học giả người Pháp chuyên nghiên cứu về Trung Quốc và Việt Nam, đã có bài viết “la commanderie de Siang” trên tập san của Viện Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO). Ông dựa vào nhiều chứng cứ để xác định lại vị trí của Tượng quận. Theo đó thì Tượng quận ở phía Quảng Tây Trung Quốc. Tức là cả vùng đất Lĩnh Nam mà nhà Tần chiếm được đều ở bên Lưỡng Quảng chứ không hề sang tới Việt Nam. Ông cũng chỉ ra rằng khởi nguồn của nhận thức sai lầm về Tượng quận suốt nhiều thế kỷ là từ chủ ý của Đỗ Hựu, một chính trị gia kiêm sử gia thời nhà Đường. Ngày nay thì những kết quả của Henry Maspero đã được chứng tỏ là đúng. Ở Trung Quốc, giới sử học đã chính thức nhìn nhận lại về Tượng quận. Ở Việt Nam, các sách giáo trình lịch sử đã lặng lẽ bỏ nội dung nêu trên.

Đương thời, ý kiến của Henry Maspero không được các học giả Việt Nam tiếp thu tích cực. Nguyễn Văn Tố, một học giả nổi tiếng đương thời, có một bài phản luận, tuy đầy cố gắng nhưng kém thuyết phục (1). Trần Trọng Kim, tác giả bộ sách Việt Nam sử lược có nhiều ảnh hưởng, không hề tiếp thu sửa chữa gì. Sách vở của các tác giả khác hầu như vẫn giữ quan điểm cũ. Điều đó phản ánh sự bảo thủ cố chấp, thiếu dũng cảm, thiếu tinh thần khoa học của tầng lớp trí thức Việt Nam nói chung.

Con số 50 vạn người xuống Lĩnh Nam từ thời Tần Thủy Hoàng hẳn đã góp phần tạo ra định kiến về nguồn gốc của người Việt Nam. Tôi đã không ít lần được biết đến những thảo luận như thế.

Sau đây, xin lấy một số dẫn chứng từ các cuốn sách lịch sử.

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết: "Dẫu người mình thuộc chủng loại nào mặc lòng, về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một nghìn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh, thì chắc là nòi giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi, mới thành ra người Việt-Nam ngày nay" (2).

Như vậy, một trong hai cơ sở để Trần Trọng Kim nhận định người Việt Nam lai Tàu hẳn là việc Tần Thủy Hoàng chuyển 50 vạn người xuống phương nam, mà có lẽ ông đã tự trừ hao đi mười vạn ở Nam Hải và Quế Lâm. Như thảo luận ở phần trên, cơ sở này đã bị bác bỏ.

Nếu xem xét thêm những tác giả khác, viết trong thời cận đại, thì có thể coi Trần Trọng Kim là đã có ý nói giảm nói tránh.

Hoàng Cao Khải, sách Việt sử yếu, sau khi đưa một số ý kiến và lập luận riêng của mình, đã chốt lại: "Do đó, chúng ta biết được dân tộc Việt Nam nguyên là Hán tộc, không còn nghi ngờ gì nữa" (3)

Nguyễn Thông, sách Việt sử thông giám cương mục khảo lược, chép: "Khi nhà Tần mở mang đất Ngũ Lĩnh, nhà Hán đặt thú lệnh, qua Đường đến Tống có hơn nghìn năm […] Đây là khí đất từ Bắc sang Nam, giống này lớn lên thì giống kia tiêu diệt, cũng là cái vận tự nhiên đấy. Thế thì nước Việt ta, đất dù là nước cũ của Hùng Lạc, mà người là dòng dõi khăn đai, từ lâu lắm rồi" (4).

Đại Nam thực lục, bộ chính sử lớn thời nhà Nguyễn, gọi thẳng dân ta là Hán nhân ( 漢人)

Đại Việt sử ký toàn thư, bộ chính sử thời nhà Lê, là bộ sử đầu tiên chép về Kỷ Hồng Bàng Thị. Theo đó, vua Hùng và những người anh em cùng tạo ra dòng giống Việt là hậu duệ của Viêm đế Thần nông của Trung Hoa. Dòng ngoại là người phương nam, nhưng phương nam đó ở hồ Động Đình, phía bắc Ngũ Lĩnh, cách nước ta rất xa.

Những mặc nhận trong sử sách tạo nên, và có khoảng cách không xa, so với diễn đạt nôm na từng khá phổ biến trong xã hội, rằng ta là Tàu, hay thậm chí là Tàu dạt.

Yếu tố nguồn gốc dòng giống thường bị lợi dụng để phục vụ các mục đích chính trị, đặc biệt là trong các xã hội còn nặng ảnh hưởng của Nho giáo như xã hội ta. Đó là một thực tế không thể phủ nhận và không nên né tránh.

Tôi vừa nói đến nhận thức sai lầm về Tượng quận. Bây giờ xin thảo luận về định kiến Nghìn năm Bắc thuộc, một cơ sở khác cũng chi phối nhận thức của người Việt về vấn đề nguồn gốc, như đã nêu trường hợpTrần Trọng Kim.

Sử sách của các triều đình Trung Quốc từ thời nhà Đường trở về sau thường gán Giao Chỉ đời trước vào An Nam, tức là coi An Nam vốn là vùng đất của người Lạc Việt. Sử sách ở Việt Nam, ra đời muộn hơn, dựa rất nhiều trên những nguồn tư liệu này.

Tuy nhiên có nhiều tài liệu cá nhân đã ghi nhận khác.

Khuất Đại Quân, một học giả người Quảng Đông, từng được xếp vào Lĩnh Nam tam đại gia, được Lê Quý Đôn trích rất nhiều, chẳng hạn Vân Đài loại ngữ, quyển 3 - Khu vũ ngữ - điều 48 và 72 có các đoạn như sau: "Ta xem mạch núi Giao Chỉ phát từ Quý Châu mà Quý Châu là miền cuối các sông, núi ở đó đều từ Ba Thục chạy tới; đại khái long mạch chạy qua như muôn vàn đợt sóng, nhảy nhót không ngừng, thẳng đến Giao Châu mới kết thành đất nước. Vân Nam là cửa sau, Quảng Tây là cửa trước, mà cõi đông là Quảng Châu và Khâm Châu...", "Vậy thời Giao Chỉ ở về phía hữu Quảng Đông, mạch Vân Nam, Quý Châu phát ở đó, đủ biết Giao Chỉ là thượng du, cho nên các con ngọn sông ở Quảng Tây đều phát nguyên ở Giao Chỉ, xuống Thương Ngô, rồi chảy ra biển Nam Hải". Theo dấu hiệu địa lý này thì Giao Chỉ ở phía Lưỡng Quảng chứ không thể là Việt Nam được. Lại chép: "Đất Giao Chỉ có 17 quận, 49 châu, 157 huyện. Mỗi năm nộp thóc cho quan tư nông hơn một nghìn ba trăm sáu mươi vạn hộc. Tính ra tất cả thuế các châu Mân, Quảng, Điền, Kiềm cũng không bằng". Như vậy, có một xứ Giao Chỉ, cùng với Mân, Quảng, Điền, Kiềm, tất cả phải là những địa phương của Trung Quốc chứ không thể là ngoại quốc được. Theo cách xác định này thì có thể hiểu là Kiềm và Giao Chỉ chia nhau hai phần của Quảng Tây.

Cố Viêm Vũ, một học giả nổi tiếng đời Thanh viết trong sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư rằng người Choang là người Việt xưa. Người Choang tập trung ở Quảng Tây. Nhận xét này phù hợp với nhận thức của Khuất Đại Quân về địa bàn Giao Chỉ.

Thực tế ở Lưỡng Quảng từng có khá nhiều đền thờ Trưng Vương. Nguyễn Thiên Túng, một vị văn quan cùng thời với Nguyễn Trãi, có đề bài thơ “Đề Khâm Châu Trưng nữ tướng” miếu khi đi sứ ngang qua Hợp Phố.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng có chép ở phần đầu Kỷ thuộc Đông Hán là: Thổ nhân ai mộ Trưng Nữ Vương lập từ phụng sự chi [Từ tại Phúc Lộc huyện, Hát Giang xã, Phiên Ngung cựu địa thành diệc hữu chi], tức là: Thổ nhân thương mến Trưng nữ Vương, làm đền thờ (đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có đền).

Ngoài ra ở Hoành Châu, thuộc khu Nam Ninh đã có đền thờ Mã Viện từ lâu đời, của người Hán lập để ghi công Mã Viện bình định Giao Chỉ. Lê Quý Đôn trên đường đi sứ về có ghé viếng và chép lại cụ thể trong tác phẩm Bắc sứ thông lục.

Nếu theo quan điểm Giao Chỉ là An Nam, thành Liên Lâu trên đất Giao Chỉ từng là thủ phủ của toàn cõi Lĩnh Nam thì lộ rõ một điều vô lý. Nhà cầm quyền phương bắc không thể nào đặt một trị sở xuống tận phía này để quản lý Lưỡng Quảng, một khu vực vừa lớn hơn lại gần hơn rất nhiều. Nếu Giao Chỉ ở khu vực Quảng Tây, như xác định của Khuất Đại Quân, thì lại hợp lý.

Các sử liệu Trung Quốc trước thời Đường thì để lộ những mâu thuẫn về vị trí địa lý

Tôi đã có một bài phân tích Thử xác định vị trí một số quận huyện trên đất Lĩnh Nam thời Hán; Tìm khu vực trống đồng; Tìm kiếm căn nguyên của một số ngộ nhận lịch sử.

Bài viết chỉ ra rằng các quận huyện của Giao Châu chủ yếu ở bên phía Lưỡng Quảng. Xem bản đồ:

Bài viết cũng chỉ ra rằng người sửa chữa hệ thống sách vở để gây nên sự ngộ nhận Giao Chỉ ở An Nam cũng chính là Đỗ Hựu.

Ông ta không chỉ mạo gán Tượng quận với Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam mà còn mạo gán cả ba quận này, tức là Giao Châu, xuống phía Việt Nam. Như vậy, sử sách về sau đã nhầm lẫn, lấy lịch sử Giao Châu ở Lưỡng Quảng gán thành lịch sử xảy ra trên địa bàn Việt Nam. Phía nam của Giao Châu là nước Lâm Ấp, lại chính trên địa bàn nước ta.

Nước Lâm Ấp bị chiếm đóng từ sau khi Mã Viện đánh dẹp Giao Chỉ. Đến cuối đời Hán thì dành độc lập. Lâm Ấp tồn tại qua giai đoạn Lục triều ở Trung Quốc, đến năm 604-605 lại bị nhà Tùy chiếm đóng, nhà Đường tiếp tục cai trị ở vùng chủ yếu là đồng bằng. Khu vực miền núi từ phía Tây Bắc kéo dài xuống phía nam tồn tại độc lập, dưới tên mới là Hoàn Vương rồi Chiêm Thành.

Rất có thể hệ thống từ Hán Việt mà ngày nay chúng ta rất quen thuộc chính là sản phẩm của chính sách tiếp thu có tính chủ động của triều đại Lâm Ấp trong giai đoạn tự chủ. Sự chủ động này tương tự như ở Triều Tiên và Nhật Bản, nếu trong hoàn cảnh bị đô hộ thì không thể xảy ra. Một điểm nữa là người ta đã phát hiện ra rất nhiều mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại tương ứng với thời Lục triều của Trung Quốc, ở khu vực Bắc Ninh, chứng tỏ khu vực bản địa thời kỳ này có sự tự do sản xuất trống đồng, khó có thể là nơi trị sở của chế độ cai trị phương bắc. Một điểm nữa, là ngay cả hệ thống rất nhiều mộ gạch ở miền bắc, mà người ta vẫn coi là mộ Hán, thì vẫn có những đặc điểm riêng chứ không hoàn toàn giống mộ Hán. Trong số đó lại có những ngôi mộ rất lớn, phải là của những nhân vật rất đặc biệt trong xã hội, không thể là của thường dân hoặc của quan lại nhỏ Trung Quốc sang.

Vùng Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ trước khi người Trung Quốc tiến xuống phía nam. Tiếng Sankrrt và tiếng Pali, tức là Bắc Phạn và Nam Phạn, đã được biết là sớm phổ biến ở Đông Nam Á.

Chữ viết chính thức của Lâm Ấp là chữ Hồ, tức là chữ Phạn, như ghi nhận trong bộ Tấn thư của Trung Quốc.

Các vua Lâm Ấp được gọi là Phạm Hùng. Phạm/ Phạn (梵) có thể là chữ phiên âm của chữ saṃskṛtā trong tiếng Sanskrt, nghĩa là thuộc về cõi trên. Hùng ( 雄), theo một giả thuyết của Trần Quốc Vượng, có thể là biến âm từ chữ Guru trong tiếng Pali, một nhánh khác của tiếng Phạn, có nghĩa là bậc đạo sư. Nói tóm lại, Phạm Hùng không phải là họ tên theo người Hán mà là phiên âm Hán của nhân vật có thể là thủ lĩnh tối cao trong mô hình Mandala của Lâm Ấp. Chúng ta cũng có thể để ý rằng cách gọi tên vua Hùng thứ nhất,..., thứ 18, là theo văn hóa của khối Ấn Độ chứ không phải theo Trung Quốc. Tùy thư cho biết triều đại này tồn tại 18 đời trước khi bị nhà Tùy diệt.

Thời Hùng Vương cũng từng được người Trung Quốc thời Đường ghi nhận. Trong bài thơ Biệt Lý Minh Phủ của Hàn Hồng, thời nhà Đương, mà nhà nghiên cứu Phan Anh Dũng sưu tầm được có câu: “Xuất nhập châu cung dẫn tiêu cổ/ Túy vũ Hung Vương đồi mồi sàng” có nghĩa là: Ra vào cung ngọc châu có kèn trống đưa dẫn/ Khi say nhảy lên giường đồi mồi của Hùng Vương mà múa. Rõ ràng thời Hùng Vương không thể cách đó cả nghìn năm.

Mặc dù sự tồn tại của dân tộc Văn Lang vẫn được ghi nhận trong Lâm Ấp ký, được Thủy Kinh chú chép lại (5), hoặc các sách Thông điển của Đỗ Hựu và Thái Binh hoàn vũ của Nhạc Sử đều có nhắc đến Phong Châu của người Văn Lang, thế nhưng huyền sử Hồng Bàng thị lại là câu chuyện được sử gia chắp vá từ ý tưởng của chuyện Liễu Nghị, được sáng tác thời nhà Đường, thành Kinh Dương Vương, như Ngô Sĩ Liên ngầm thừa nhận (6). Lại gán các Lạc Vương ở Lĩnh Nam thành Hùng Vương ở nước ta. Một câu chuyện vô lý về mọi mặt.

Như vậy, lịch sử xảy ra trên đất nước chúng ta từ cuối thiên niên kỉ thứ nhất trở về trước đã bị nhận thức sai lầm. Cả hai yếu tố quyết định đến việc nhìn nhận nguồn gốc người Việt, là vị trí Tượng quận và khái niệm nghìn năm Bắc thuộc đều bị ngộ nhận. Thực tế, các ngành khoa học mới như Sinh học di truyền, ngôn ngữ học, khảo cổ học... đã cùng chỉ ra những khác biệt giữa hai dân tộc. Khoảng cách đó đủ xa để coi việc nhìn nhận chúng ta là người Hán là một sự ngộ nhận. Sự ngộ nhận này vẫn tồn tại ở nhiều tầng lớp và khó có thể coi là vấn đề nhỏ.

Mặc dù thực tế vẫn có một số dòng họ ở Việt Nam có một cụ tổ từ bên Trung Quốc sang nhưng qua nhiều thế hệ con cháu đã là người Việt Nam chứ không phải người Hán, xét trên mọi yếu tố. Một số trường hợp khác, có thể do ngộ nhận rằng người Việt Nam là người Hán nên những người soạn gia phả, thường là không quá xa thời đại ngày nay, nhận bừa tổ tiên là một nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc có liên quan đến phương nam, vì cùng họ. Thực tế, tên gọi các họ ở Việt Nam ban đầu có thể chỉ là do nhà cai trị quyết định, gán vào những cá nhân để tiện quản lý.


Chúng ta có nên nhìn nhận lại lịch sử?

Tôi cho rằng con người càng tiến vào thời đại văn minh khoa học thì càng khó chấp nhận những sự phi lý. Do đó động cơ đi tìm sự thật của cộng đồng sẽ ngày càng mạnh mẽ, không thể ngăn cản được. Các vấn đề sử học này không còn chủ yếu dành riêng cho các triều đình hai bên, mà đã được đại chúng hóa, quốc tế hóa. Cộng với những thành tựu khoa học trong mọi lĩnh vực, thì những bí ẩn và dối trá sẽ dần dần bị phơi bày công khai, khó mà che dấu.

Có thể đó là lý do mà người Trung Quốc nhìn nhận lại về Tượng quận, theo hướng phủ nhận Tượng quận ở Việt Nam. Những năm gần đây họ đang có xu hướng ủng hộ cộng đồng người Choang ở Quảng Tây nhìn nhận lại tổ tiên Lạc Việt. Như vậy là đã hình thành một sự tranh chấp về tổ tiên giữa người Choang ở Quảng Tây và người Việt Nam.

Rất có thể các triều đình Trung Quốc chưa bao giờ mất ý thức về sự thật lịch sử trong vấn đề này. Các tài liệu cổ sử quan trọng về khu vực Lĩnh Nam có thể vẫn còn, mà họ giấu biệt đi. Vùng Quảng Tây vốn rất mờ nhạt trong lịch sử, là vì lịch sử của nó đã bị lấy để gán vào phía Việt Nam. Tuy vậy chứng cứ phản bác cách gán ghép đó không hề thiếu, ngay trong các tài liệu công khai, chỉ là chúng ta không muốn nhìn nhận. Họ vẫn nắm lợi thế cả về chứng cứ lẫn tính logic của vấn đề. Tóm lại, với cuộc tranh chấp về tổ tiên này thì người Việt Nam kém hẳn lý lẽ.

Người Trung Quốc đã nhìn xa và họ sẽ lại có ưu thế trong cuộc chiến biến chúng ta thành một cộng đồng mơ hồ về nguồn gốc nếu chúng ta không đủ can đảm để xét lại lịch sử, nhìn nhận sự thật trên chính địa bàn của mình.

Sự mơ hồ lại là môi trường tốt cho một thuyết gây được khá nhiều ảnh hưởng gần đây, đó là người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ vốn là người từ Trung Quốc đến, chủ yếu từ thời Tùy Đường trở về sau, trước đó vùng đất này còn lầy lội, người bản địa rất ít. Việc mở rộng liên tục của đồng bằng Bắc Bộ đã được coi là cơ sở để nói rằng trước đây vài ngàn năm thì vùng đất này hầu như chưa có gì. Điều này đã được chứng minh là hoàn toàn không đúng.

Chứng minh căn cước của dân tộc không chỉ giúp cho dân chúng trong nước tự tin hơn, bên ngoài rõ hơn, mà còn bác bỏ cách tuyên truyền, cách phát ngôn của người Trung Quốc khi họ kêu gọi chúng ta "lãng tử hồi đầu", nghĩa là đứa con lang thang hãy quay về. Một quốc gia độc lập và phát triển thì luôn cần sự tôn trọng của những quốc gia khác.


Chú thích:

  1. Nguyễn Văn Tố, Đại Nam dật sử & Sử ta so với sử Tàu, nxb Khoa học xã hội, 2019, trang 377-388
  2. Trần Trọng Kim, 1919, Việt Nam sử lược, phần mở đầu: Nước Việt Nam, mục 5: Gốc tích
  3. Hoàng Cao Khải, 1914, Việt sử yếu, quyển thứ nhất, mục: Nhân chủng
  4. Nguyễn Thông, 1877, Việt sử thông giám cương mục khảo lược, quyển 1 – Tiền biên
  5. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên (chú), Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh (sớ), Nguyễn Bá Mão (dịch), Nxb Thuận Hóa, 2005, trang 373
  6. Đại Việt sử ký toàn thư, phần Kinh Dương Vương